vậy hóa ra tạp chí này cũng cho down về: tapchi.vnu.edu.vn
Bảo vệ quyền con người bằng pháp
luật TTHS
Nguyễn Ngọc Chí* Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, Nhận ngày 12 tháng 3 năm 2007
Tóm tắt. Bài viết phân tích làm rõ
việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật TTHS thể hiện qua một số nội dung,
mà cụ thể là: 1. Qua các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS. 2. Qua quy định của
Luật TTHS về các biện pháp ngăn chặn. 3. Qua các quy định về khởi tố vụ án HS.
4. Qua các quy định về điều tra - truy tố. 5. Qua các quy định về thi hành bản
án.
Pháp luật TTHS (TTHS) có vị trí
quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người thông qua việc “chủ động phòng ngừa,
ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời
mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” hướng
tới mục đích “góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng
thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm”.
Những định hướng trên được quán
triệt và thể hiện ở tất cả các quy định của luật TTHS trong quá trình giải quyết
vụ án: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan tiến
hành tố tụng (THTT) và người THTT, tạo thành hệ thống các quy phạm làm cơ sở
cho việc bảo vệ quyền con người.
1. Bảo vệ quyền con người thông
qua các
nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS
Nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS là
những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động
TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS. Những nguyên tắc cơ bản
này đã thể hiện đầy đủ quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước ta trong việc
bảo vệ quyền con người [1, tr.45]. Trong số 30 nguyên tắc cơ bản được quy định ở
Bộ luật TTHS năm 2003 (từ Điều 3 - Điều 32) ở những cấp độ khác nhau đều thể hiện
tinh thần bảo vệ quyền con người với hai định hướng: (1) Xử lý nhanh chóng, kịp
thời đúng pháp luật đối với tội phạm xâm phạm quyền con người và (2) Đảm bảo
không làm ảnh hưởng tới quyền con người khi tiến hành tố tụng.
1.1. Những nguyên tắc đảm bảo cho
việc phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh những tội phạm xâm phạm
quyền con người bao gồm
1.1.1. Nguyên tắc pháp chế XHCN
Pháp chế XHCN là nguyên tắc Hiến định
(Điều 12 Hiến pháp năm 1992) được quán triệt và quy định tại Điều 3 Bộ luật
TTHS:
“Mọi hoạt động TTHS phải được tiến
hành theo quy định của Bộ luật này”. Nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi mọi hoạt
động TTHS phải được luật điều chỉnh chặt chẽ và pháp luật đó phải được tuân thủ
một cách nghiêm chỉnh. Nguyên tắc này có ý nghĩa đảm bảo cho việc tiến hành giải
quyết vụ án nhanh chóng, chính xác có hiệu quả đồng thời cũng đảm bảo các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân. Nội dung của nguyên tắc pháp chế trong TTHS
và được biểu hiện như sau: a) Các hoạt động tố tụng, trình tự thủ tục khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án HS, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và mối
quan hệ giữa các cơ quan THTT, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng
và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân phải được quy định
trong Luật TTHS một cách cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tế; b) Mục đích giải
quyết vụ án theo hướng phát hiện nhanh chóng, xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người
vô tội chỉ có thể đạt được khi có sự chấp hành một các tự nguyện, triệt để pháp
luật TTHS của các chủ thể.
1.1.2. Nguyên tắc đảm bảo thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS
Nguyên tắc này quy định hai chức
năng của VKS đó là: chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát
tuân theo pháp luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án HS đảm bảo cho việc bất
kỳ một tội phạm phạm nào, trong đó có các tội xâm phạm quyền con người đều bị
truy tố và chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật TTHS đảm bảo cho yêu cầu tăng
cường pháp chế. Trong các giai đoạn của TTHS, VKS có trách nhiệm áp dụng những
biện pháp do bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ
cá nhân tổ chức nào. Việc kiểm sát tuân theo pháp luật TTHS được VKS thực hiện
từ khi có tin báo và tố giác về tội phạm đến giai đoạn thi hành án, bằng các biện
pháp của Luật TTHS như: phê chuẩn các quyết định của cơ quan Điều tra, huỷ bỏ
các quyết định của các cơ quan THTT, tự mình tiến hành một số hoạt động hoặc ra
các quyết định cần thiết trong việc giải quyết vụ án, kháng nghị các bản án và
quyết định của Toà án... quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong quá
trình giải quyết vụ án đảm bảo cho các hoạt động tố tụng được tuân thủ đúng
pháp luật, loại trừ các vi phạm pháp luật của các cá nhân và tổ chức góp phần
vào việc bảo vệ quyền con người. Khoản 3 Điều 23 Bộ luật TTHS quy định: “Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
TTHS nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”.
1.1.3. Nguyên tắc giám đốc việc
xét xử
Giám đốc xét xử là việc Toà án cấp
trên kiểm tra tính đúng đắn về hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới. Việc giám
đốc của Tòa án cấp trên nhằm khắc phục những sai lầm thiếu sót đó là cần thiết,
góp phần vào bảo vệ pháp chế XHCN, xử lý công minh, không để lọt tội phạm hoặc
làm oan người vô tội. Giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên thông qua các hoạt
động: kiểm tra phát hiện những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới; giải quyết
khiếu nại của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và của công dân về các bản
án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử; hướng dẫn
Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật thống nhất; kháng nghị bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.
1.1.4. Nguyên tắc tiếng nói, chữ
viết dùng trong TTHS
Tiếng nói và chữ viết trong tố tụng
hinhs sự không những là vấn đề mang tính kỹ thuật đảm bảo tính chính xác, khách
quan trong quá trình giải quyết vụ án HS mà còn là cơ sơ để thực hiện quyền dân
chủ và là điều kiện thực tế để công dân thực hiện quyền tố tụng của họ. Vì vậy,
những người không biết hoặc sử dụng không thành thạo tiếng Việt thì họ sẽ sử dụng
tiếng nói và chữ viết thông thạo nhất và trong trường hợp này phải có phiên dịch.
1.1.5. Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư
của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng
Người THTT, người phiên dịch, người
giám định là những người có trách nhiệm chứng minh tội phạm làm rõ bản chất vụ
án nên việc vô tư của họ khi THTT có ý nghĩa quan trọng góp phần giải quyết vụ
án khách quan, bảo vệ quyền con người. Luật TTHS quy định họ sẽ không được tiến
hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng có thể không vô
tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Những lý do xác đáng để cho rằng họ
không vô tư mới chỉ là khả năng, nhưng để đảm bảo chắc chắn có sự vô tư khi giải
quyết vụ án HS nên khi có căn cứ quy định tại các Điều 42 đến 47 Bộ luật TTHS
thì họ phải từ chối THTT hoặc buộc phải thay đổi nếu họ không từ chối. Nguyên tắc
này góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền con người trong TTHS.
1.1.6. Nguyên tắc xác định sự thật
của vụ án
Xác định sự thật khách quan là mục
đích của qúa trình giải quyết vụ án HS góp phần bảo vệ quyền con người. Điều 10
Bộ luật TTHS quy định các cơ quan THTT phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để
xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những
chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng,
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải
chứng minh mình vô tội. Như vậy, trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan THTT,
người THTT. Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh họ vô tội, không
phải chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, để bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp Luật TTHS quy định họ có quyền đưa ra các chứng cứ và yêu cầu
chứng minh mình không phạm tội. Các cơ quan THTT phải tạo điều kiện để bị can,
bị cáo đưa ra các chứng cứ và giải quyết các yêu cầu mà họ đưa ra, phải xem xét
một cách khách quan các chứng cứ và yêu cầu đó không được có thái độ thiên vị
hoặc bỏ qua.
1.1.7. Nguyên tắc trách nhiệm khởi
tố và xử lý vụ án HS
Phát hiện chính xác, nhanh chóng
và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và làm
oan người vô tội là nhiệm vụ trong quá trình giải quyết vụ án góp phần bảo vệ
quyền con người. Nguyên tắc này quy định: Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm
thì Cơ quan điều tra, VKS, Toà án, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách
nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định
tội phạm và xử lý tội phạm. (Điều 13 Bộ luật TTHS). Nguyên tắc này được quy định
trong Luật TTHS nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện, khởi tố và
bị xử lý không để lọt tội phạm, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội.
1.1.8. Nguyên tắc đảm bảo sự phối
hợp giữa các cơ quan THTT với các cơ quan Nhà nước khác các tổ chức xã hội và mọi
công dân trong việc giải quyết vụ án
Để thực hiện các nhiệm vụ trong
qúa trình giải quyết vụ án, ngoài việc thực hiện tốt các quyền hạn trách nhiệm
của mình các cơ quan THTT còn phải có phối hợp với nhau đồng thời phải phối hợp
với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân. Nguyên tắc này không
những là đảm bảo cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng có hiệu quả mà còn là sự
thể hiện nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm của toàn xã hội.
1.1.9. Nguyên tắc Tòa án xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật
Xét xử là hoạt động áp dụng pháp
luật của Toà án, trong hệ thống cơ quan Nhà nước thì chỉ có Tòa án có quyền xét
xử về HS. Việc xét xử của Tòa án phải dựa trên cơ sở pháp luật mới đảm bảo tính
khách quan, vô tư không bị phụ thuộc bởi bất kỳ tác động khách quan hay chủ
quan nào. Điều 16
Bộ luật TTHS quy định: “Khi xét xử,
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
1.1.10. Nguyên tắc Tòa án xét xử tập
thể và quyết định theo đa số
Để đảm bảo việc xét xử thận trọng,
khách quan đúng người, đúng tội Luật TTHS quy định nguyên tắc Tòa án xét xử tập
thể và quyết định theo đa số (Điều 18 Bộ luật TTHS). Theo nguyên tắc này thì việc
xét xử các vụ án ở các cấp Tòa án đều hiện theo chế độ hội đồng. Khi quyết định
các vấn đề của vụ án được thực hiện bằng cách biểu quyết và quyết định của HĐXX
là ý kiến đa số.
1.1.11. Nguyên tắc xét xử công
khai
Trong thiết chế dân chủ thì công
khai là thuộc tính quan trọng, vì vậy xét xử công khai được quy định là nguyên
tắc cơ bản của Luật TTHS. Điều 18 Bộ luật TTHS quy định: “Việc xét xử của Tòa
án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự”. Nguyên tắc này tạo
điều kiện để nhân dân kiểm tra công việc xét xử của Tòa án có tác dụng nâng cao
trách nhiệm trong việc xét xử của Tòa án đồng thời thông qua đó giáo dục ý thức
pháp luật của công dân động viên đông đảo mọi người tham gia vào cuộc đấu tranh
chống tội phạm.
1.1.12. Nguyên tắc đảm bảo quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân đối với hoạt động của các cơ quan THTT
Nguyên tắc này thể hiện bản chất
dân chủ của pháp luật TTHS nước ta, nó có ý nghĩa không những đảm đảm bảo các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn góp phần vào việc phát hiện khắc
phục sai lầm của các cơ quan THTT, người THTT trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 31 Bộ luật TTHS quy định: Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại,
công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động TTHS của
các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành TTHS hoặc của bất cứ cá nhân nào
thuộc các cơ quan đó. Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết
kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả
giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.
1.1.13. Nguyên tắc không ai có thể
bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật (Điều 10 Bộ luật TTHS)
Trong hệ thống các cơ quan Nhà nước
thì Toà án có chức năng xét xử về HS mà nội dung của nó là đánh giá các chứng cứ
một cách chính thức tại phiên toà để ra những phán quyết về sự việc phạm tội và
hành vi phạm tội, đồng thời quyết định áp dụng hình phạt phù hợp với tình chất
và mức độ của hành vi do người phạm tội thực hiện. Vì vậy, một người chỉ bị coi
là có tội và bị áp dụng hình phạt khi Toà án đã xem xét, đánh giá chứng chính
thức tại phiên tòa và có đủ cơ sở để kết luận hành vi của họ đã CTTP theo các
điều, khoản của BLHS bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Việc quy định nguyên tắc
này trong Luật TTHS đã khắc phục được sự định kiến của các cơ quan THTT đối với
bị can, bị cáo đồng thời còn tạo điều kiện để bị can, bị cáo thực hiện quyền
bào chữa của mình
1.2. Các nguyên tắc đảm bảo không
làm ảnh hưởng đến quyền con người khi tiến hành tố tụng
Trong quá trình giải quyết vụ án,
các hoạt động của cơ quan THTT ảnh hưởng tới các quyền của công dân, đặc biệt
là các quyền cơ bản được quy định trong Hiến pháp như: quyền tự do thân thể,
quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, quyền bất
khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín, điện báo... Vì vậy,
Luật TTHS quy định các nguyên tắc nhằm đảm bảo các quyền con người.
1.2.1. Nguyên tắc tôn trọng và bảo
vệ các quyền con người
Các quyền cơ bản của công dân được
quy định trong Hiến pháp là thành quả của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, những quyền này không chỉ có ý nghĩa
chính trị mà còn tác động đến đời sống hàng ngày của người dân. Vì thế, khi tiến
hành áp dụng các biện pháp của TTHS để giải quyết vụ án, một mặt phải đảm bảo
thực hiện được nhiệm vụ của TTHS nhưng đồng thời phải tôn trọng các quyền con
người cũng như các quyền cơ bản của công dân. Điều 4 BLTTHS quy định khi THTT
cơ quan THTT, người THTT “phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những
biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét
thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”.
Nội dung nguyên tắc này được thể
hiện như sau: a) Tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tiến
hành tốtụng. Các cơ quan THTT, người THTT chỉ được áp dụng các biện pháp ngăn
chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ khi có những căn cứ và trong giới hạn
quy định của Luật TTHS; b) Thường xuyên kiểm tra, kiểm sát tính hợp pháp, hợp
lý của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng
cứ, nếu phát hiện thấy có vi phạm pháp luật phải huỷ bỏ ngay các quyết định đó;
c) Khi những căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập
chứng cứ không còn hoặc không cần thiết thì các cơ quan và người có thẩm quyền
phải kịp thời huỷ bỏ hoặc thay thế quyết định áp dụng các biện pháp đó. Tôn trọng
và bảo vệ quyền cơ bản của công dân là nguyên tắc có tính chất bao trùm, xuyên
suốt trong mọi hoạt động tố tụng của các cơ quan THTT, người THTT nhằm đảm bảo
không một công dân nào bị xâm hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp.
1.2.2. Bảo đảm quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của
công dân (Điều 6; Điều 8 Bộ luật TTHS)
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
chỗ ở, an toàn, bí mật thư tín, điện thọai điện tín là những quyền tự do cá
nhân quan trọng nhất của con người được ghi nhận tại các điều71, 72, 73 Hiến
pháp năm 1992. Luật TTHS coi việc bảo vệ và tôn trọng các quyền đó của công dân
là những nguyên tắc cơ bản trong toàn bộ quá trình THTT giải quyết vụ án. Nội
dung của nguyên tắc này như sau: a) Không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định
của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS. Khi áp dụng biện pháp bắt, tạm
giữ, tạm giam phải tuân theo quy định của Bộ luật TTHS về căn cứ, thẩm quyền,
thủ tục trình tự của các biện pháp đó. Mọi trường hợp làm trái đều là vi phạm
pháp luật và tuỳ theo mức độ người vi phạm có thể bị truy cứu TNHS. Trong quá
trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ
không được dùng nhục hình, bức cung, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của những tham
gia tố tụng. Những trường hợp sử dụng biện pháp đó đều bị coi bất hợp pháp và
tuỳ mức độ mà người vi phạm có thể bị truy cứu TNHS; b) Không ai được xâm phạm
chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân. Trong quá
trình THTT chỉ được áp dụng biện pháp khám người, chỗ ở, đồ vật, thư tín, điện
thoại, điện báo... khi có căn cứ pháp luật và đúng quy định về thẩm quyền, thủ
tục, trình pháp luật. Việc vi phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân
(khám xét trái phép chỗ ở của công dân...) hoặc hành vi phạm về bí mật, an toàn
thư tín, điện tín, điện thoại của công dân (Chiếm đoạt, khám xét, thu giữ...
thư tín, điện tín, điện thoại của công dân) tuỳ mức độ có thể bị truy cứu TNHS.
1.2.3. Nguyên tắc bảo hộ tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân
Theo quy định của Hiến pháp thì
tính mạng, sức khoẻ, danh đự, nhân phẩm, tài sản được nhà nước bảo hộ. Điều 7 Bộ
luật TTHS nguyên tắc này với các nội dung: a) Công dân có quyền được pháp luật
bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản; b) Mọi hành vi xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật.
c) Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người
thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền THTT phải áp dụng những biện pháp
cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật.
1.2.4. Nguyên tắc đảm bảo quyền
bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo
là nguyên tắc cơ bản đồng thời còn là chế định quan trọng của Luật TTHS mang ý
nghĩa to lớn trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị
cáo và đảm bảo tính khách quan trog quá trình giải quyết vụ án hình sự. Quyền
bào chữa là tổng hợp các hành vi tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra chứng cứ
để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan THTT. Quyền
bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo với những nội dung sau: a) Người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;
b) Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo được thực hiện quyền bào chữa của họ. Tuy rằng, việc nhờ người khác
bào chữa là quyền của bị can, bị cáo nhưng trong một số trường hợp mặc dù bị
can, bị cáo không nhờ người khác bào chữa thì Tòa án vẫn phải chỉ định người
bào chữa cho họ theo quy định của pháp luật.
1.2.5. Nguyên tắc bảo đảm quyền
bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5 Bộ luật TTHS).
TTHS tiến hành theo nguyên tắc mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín
ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều
bị xử lý theo pháp luật. Nội dung nguyên tắc này bao gồm: a) Khi tham gia TTHS
mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau; b) Bất kỳ ai có hành vi phạm tội đều
phải chịu TNHS theo các điều, khoản của BLHS; c) Quá trình giải quyết đối với bất
kỳ vụ án nào cũng đều phải theo một trình tự, thủ tục thống nhất theo quy định
của pháp luật TTHS.
1.2.6. Nguyên tắc bảo đảm quyền được
bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan
Nhằm đảm bảo quyền con người Luật
TTHS quy định những trường hợp bị oan do các cơ quan THTT gây ra đều được bồi
thường. Điều 29 Bộ luật TTHS quy định những nội dung sau: a) Người bị oan do
người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra có quyền được bồi thường thiệt
hại và phục hồi danh dự, quyền lợi; b) Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động
TTHS đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho
người bị oan; c) Người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở nguyên tắc này, Quốc hội đã
ban hành Nghị quyết 388 quy định chi tiết việc bồi thường thiệt hại cho người bị
oan do người có thẩm quyền của các cơ quan THTT gây ra. Những quy định này của
pháp luật đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người.
1.2.7. Nguyên tắc bảo đảm quyền được
bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành
TTHS gây ra
Điều 30 Bộ luật TTHS quy định việc
bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại về thể chất, tài sản... do cơ quan
THTT và người THTT gây ra trong quá tình THTT giải quyết vụ án HS với những nội
dung sau: a) Người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong hoạt
động TTHS gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại; b) Cơ quan có thẩm quyền
trong hoạt động TTHS bồi thường cho người bị thiệt hại; c) Người đã gây thiệt hại
có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Bảo vệ quyền con người thông
qua quy định của luật TTHS về các biện pháp ngăn chặn
Trong quá trình giải quyết vụ án
HS các cơ quan THTT được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế trong đó có biện
pháp ngăn chặn. Biện pháp ngăn chặn là chế định pháp lý quan trọng được quy định
tại Chương VI Bộ luật TTHS bao gồm các biện pháp: Bắt; tạm giữ; tạm giam; cấm
đi khỏi nơi cư trú; bảo lãnh; đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm. Nhằm tránh việc
lợi dụng của các cơ quan THTT và người THTT khi áp dụng áp dụng những biện pháp
này xâm hại đến quyền con người Luật TTHS quy định chặt chẽ mục đích, căn cứ,
thẩm quyền, thủ tục áp dụng.
2.1. Mục đích áp dụng biện pháp
ngăn chặn
Điều 79 Bộ luật TTHS quy định chỉ
áp dụng biện pháp ngăn chặn với hai mục đích, đó là: 1) Ngăn chặn không cho tội
phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội tiếp tục
thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trốn
tránh sự trừng phạt của pháp luật; 2) Tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan
THTT giải quyết vụ án như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội,
tiêu huỷ chứng cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc
với người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu
của cơ quan THTT. Ngoài hai mục đích trên biện pháp ngăn chặn không được áp dụng
với bất kỳ mục đích nào khác nhất là đối với ý đồ xâm phạm quyền con người.
2.2. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn
chặn
Để đảm bảo đạt được mục đích đặt
ra của biện pháp ngăn chặn đồng thời bảo vệ các quyền con người không bị xâm hại,
Luật TTHS quy định căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đó là: 1) Để kịp thời
ngăn chặn tội phạm; 2) Khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội;
3) Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra,
truy tố xét xử; 4) Để đảm bảo thi hành án.
Như vậy, căn cứ áp dụng các biện
pháp ngăn chặn là những tài liệu, chứng cứ mang tính dự báo về khả năng bị can,
bị cáo thực hiện các hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội
hoặc cản trở thi hành án. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn phải dựa vào một
trong những căn cứ vừa nêu trên chứ không phải bất kỳ trường hợp nào bị can, bị
cáo cũng đều bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Việc có hay không áp dụng biện
pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp ngăn chặn nào tuỳ thuộc vào tính chất mức độ
của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị can, bị cáo và điều kiện, khả
năng quản lý họ của các cơ quan THTT.
Đối với từng biện pháp ngăn chặn
Luật TTHS còn quy định những căn cứ cụ thể cho từng biện pháp tránh sự áp dụng
tràn lan không có căn cứ.
2.3. Thẩm quyền áp dụng biện pháp
ngăn chặn
Ngoài biện pháp bắt người trong
trường hợp phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã mà bất kỳ ai cũng có quyền
bắt quy định tại Điều 82 Bộ luật TTHS thì những biện pháp ngăn chặn khác phải
do những người có trách nhiệm của các cơ quan THTT mới có thẩm quyền áp dụng.
Đối với việc bắt người trong trường
hợp khẩn cấp (Điều 81 Bộ luật TTHS) và biện pháp tạm giữ (Điều 86 Bộ luật TTHS)
thì người có thẩm quyền quyết định áp dụng phải là: a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra các cấp; b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung
đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; c)
Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng.
Thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt bị
can, bị cáo để tạm giam (Điều 80 Bộ luật TTHS) và biện pháp tạm giam (Điều 88 Bộ
luật TTHS) phải là: a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp;
b) Chánh án, Phó Chánh án TAND, Tòa án quân sự các cấp; c) Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm TANDTC; HĐXX; d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra các cấp.
Thẩm quyền áp dụng các biện pháp cấm
đi khỏi nơi cư trú (Điều 91 Bộ luật TTHS); Bảo lĩnh (Điều 92 Bộ luật TTHS); Đặt
tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo (Điều 93 Bộ luật TTHS) do: a) Viện trưởng,
Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp; b) Chánh án, Phó Chánh án TAND và
Tòa án quân sự các cấp; c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh Tòa, Phó Chánh toà Tòa
phúc thẩm TANDTC; HĐXX; d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
đ) Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc bảo
lãnh.
2.4. Thủ tục áp dụng biện pháp
ngăn chặn
Thủ tục, trình tự khi áp dụng các
biện pháp ngăn chặn cũng được quy định chặt chẽ đảm bảo cho việc đấu tranh chống
tội phạm có hiệu quả đồng thời không để bị lợi dụng để xâm hại quyền con người.
Tương ứng với mỗi biện pháp ngăn chặn luật quy định chi tiết thủ tục áp dụng đối
với cơ quan THTT, người THTT, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức,
cá nhân khấc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án. Đó là các thủ tục về tiến
hành, thủ tục lập biên bản, thủ tục ra quyết định, thủ tục phê chuẩn... và thời
hạn, thời điểm áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
3. Bảo vệ quyền con người thông
qua các quy định về khởi tố vụ án HS
Khởi tố vụ án HS là giai đoạn đầu
của quá trình giải quyết vụ án HS, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ sử dụng
các biện pháp của TTHS để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, trên cơ sở
đó các cơ quan này sẽ ra một trong hai quyết định: Quyết định khởi tố vụ án HS
và Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Việc khởi tố vụ án HS đối với tội
phạm nói chung và các tội xâm phạm quyền công dân có ý nghĩa quan trong trong
cơ chế bảo vệ quyền con người của hệ thống pháp luật nước ta. Chính vì vậy, Bộ
luật TTHS quy định căn cứ, cơ sở của việc khởi tố vụ án và không khởi tố vụ án
HS cũng như thẩm quyền, trình tự, thủ tục ra Quyết định khởi tố vụ án và việc
kiểm sát khởi tố vụ án HS.
3.1. Căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án
HS. Theo đó
1) Căn cứ khởi tố vụ án HS, Luật
TTHS quy định chỉ được khởi tố vụ án HS khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.
Quy định này trước hết khẳng định các cơ quan có thẩm quyền chỉ khởi tố vụ án
HS khi thu thập được các chứng cứ chứng minh có dấu hiệu của tội phạm, tránh việc
khởi tố vụ án không có căn cứ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
xã hội và công dân. Thứ hai, việc khởi tố vụ án hình sự không chỉ là quyền hạn
mà còn là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với tội phạm xảy
ra trong đó có các tội phạm xâm phạm quyền con người.
2) Việc xác định dấu hiệu tội phạm
dựa trên những cơ sở sau đây: a) Tố giác của công dân; b) Tin báo của cơ quan,
tổ chức; c) Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; d) Cơ quan điều
tra, VKS, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển
và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
đ) Người phạm tội tự thú.
3) Những căn cứ không khởi tố vụ án
hình sự: Điều 107 Bộ luật TTHS quy định không được khởi tố vụ án HS khi có một
trong những căn cứ sau đây: a) Không có sự việc phạm tội; b) Hành vi không cấu
thành tội phạm; c) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi
chịu TNHS; d) Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định
đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đ) Đã hết thời hiệu truy cứu TNHS; e) Tội
phạm đã được đại xá; f) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết,
trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác. Quy định này bảo đảm cho các
quyền con người được tôn trọng, không bị khởi tố khi không có dấu hiệu tội phạm.
Những quy định về căn cứ và cơ sở
khởi tố và căn cứ không khởi tố vụ án HS đã khẳng định hướng chính sách HS của
Đảng và Nhà nước ta là, mọi tội phạm đều bị phát hiện và xử lý góp phần bảo vệ
quyền con người trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
3.2. Thẩm quyền khởi tố vụ án HS
Trong bộ máy Nhà nước ta có nhiều
loại cơ quan để thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy
nhiên, việc khởi tố vụ án HS chỉ gaio cho các cơ quan THTT và một số cơ quan quản
lý Nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định mà không quy định cho tất cả các cơ
quan Nhà nước. Quy định như vậy một mặt đảm bảo sự phân công quyền lực giữa các
cơ quan trong Nhà nước XHCN, mặt khác đảm bảo nguyên tắc thận trọng, khách quan
trong TTHS, tôn trong quyền con người.
Điều 103 Bộ luật TTHS quy định nhiệm
vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc về các Cơ
quan điều tra, VKS và trong thời hạn hai mươi ngày hoặ hai tháng trong trường hợp
phức tạp, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,
Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn
tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án HS. Kết quả
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà
nước phải được gửi cho VKS cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo
tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết. Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện
pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm. Điều 104 quy định Quyết định
khởi tố vụ án HS thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và một số
cơ quan khác khác được giao tiến hành một số hoạt động tố tụng.
3.3. Thủ tục khởi tố vụ án HS
Để đảm bảo quyền con người không bị
xâm hại và tính chính xác khách quan trong quá trình giải quyết vụ án Luật TTHS
quy định trình tự, thủ tục khởi tố vụ án HS như sau:
3.3.1. Trình tự
Tiếp nhận tin báo và tố giác tội
phạm: Cơ quan điều tra, VKS có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin
báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan
Nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp
nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Trong thời hạn hai mươi ngày (hoặc
hai tháng), kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,
Cơ quan điều tra phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố
hoặc quyết định không khởi tố vụ án HS.
Kết quả giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà nước phải được gửi cho
VKS cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác
tội phạm biết. Cơ quan điều tra phải bảo vệ người đã tố giác tội phạm. Còn VKS
có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Quyết định khởi tố vụ án HS: Khi
xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra; VKS; các cơ quan khác có thẩm
quyền; HĐXX phải ra Quyết định khởi tố vụ án HS.
3.3.2. Thủ tục
Tất cả các hoạt động xác minh làm
rõ dấu hiệu tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền đều phải được tiến hành theo
quy định của pháp luật và phải được phản ánh trong biên bản.
Quyết định khởi tố vụ án HS phải
ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố, điều khoản của Bộ luật HS được áp dụng và họ
tên, chức vụ người ra quyết định.
Quyết định khởi tố vụ án HS của Cơ
quan điều tra và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra
phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp.
4. Bảo vệ quyền con người thông
qua các quy định về điều tra - truy tố
Điều tra vụ án HS là một giai đoạn
của TTHS trong đó Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động
điều tra có trách nhiệm chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề
khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Toà án. Đồng thời
thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng
vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu
quan.
Giai đoạn điều tra thực chất là
quá trình làm sáng tỏ tất cả sự thật khách quan vụ án của Cơ quan điều tra nhằm
phục vụ cho việc xử lý tội phạm bảo vệ quyền con người vì vậy các quy định về
điều tra của Luật TTHS đều hướng tới mục tiêu này.
4.1. Nhiệm vụ của giai đoạn điều
tra
Theo quy định của Luật TTHS giai
đoạn điều tra có nhiệm vụ chứng minh:
1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không,
thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2) Ai là người thực hiện hành vi
phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực TNHS hay
không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
TNHS của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính
chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
3) Xác định nguyên nhân, điều kiện
phạm tội, kiến nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan thực hiện biện pháp phòng ngừa.
4.2. Các biện pháp điều tra
Các biện pháp điều tra trong TTHS
khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nên Luật
TTHS quy định chặt chẽ căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp này.
Các biện pháp bao gồm: 1) Khởi tố bị can; 2) Hỏi cung bị can; 3) Lấy lời khai
người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng; 4) Khám xét, thu giữ,
tạm giữ, kê biên tài sản; 5) Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem
xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, giám định.
4.3. Các quy định khác về hoạt động
điều tra
1) Thời hạn điều tra. Quá trình điều
tra làm rõ bản chất vụ án là gai đoạn quan trọng của quá trình giải quyết vụ án
những không phải vô thời hạn. Vì vậy, để đảm bảo việc xử lý kịp thời tội phạm
và đảm bảo quyền con người Luật TTHS quy định thời hạn của giai đoạn điều tra
(Điều 119 Bộ luật TTHS); Thời hạn phục hồi điều tra; điều tra bổ sung, điều tra
lại (Điều 121 Bộ luật TTHS). Hết thời hạn quy định trên nếu không chứng minh được
tội phạm CQĐT phải ra quyết định đình chỉ vụ án.
2) Tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ
điều tra. Cũng vì mục đích tôn trọng và đảm bảo quyền con người mà luật TTHS
quy định trong một số trường hợp tuy chưa hết hạn hoặc đã hết hạn nhưng việc điều
tra được tạm đình chỉ hoặc đình chỉ.
Những trường hợp tạm đình chỉ điều
tra: Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác; Trong trường hợp
chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì chỉ tạm đình
chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra.
Những trường hợp đình chỉ điều
tra: Có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ
luật TTHS hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của BLHS; Đã hết thời hạn
điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
3) Giải quyết các yêu cầu của người
tham gia tố tụng. Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề liên
quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của
mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả.
Trong trường hợp không chấp nhận
yêu cầu thì Cơ quan điều tra hoặc VKS phải trả lời và nêu rõ lý do. Nếu không đồng
ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra hoặc VKS thì người tham gia tố tụng
có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo
quy định tại Chương XXXV Bộ luật TTHS.
4) Sự tham dự của người chứng kiến.
Người chứng kiến được mời tham dự hoạt động điều tra trong những trường hợp do
Bộ luật TTHS quy định. Người chứng kiến có trách nhiệm xác nhận nội dung và kết
quả công việc mà Điều tra viên đã tiến hành trong khi mình có mặt và có thể nêu
ý kiến cá nhân. ý kiến này được ghi vào biên bản.
5) Biên bản điều tra. Khi tiến
hành điều tra phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật TTHS. Điều
tra viên lập biên bản phải đọc lại biên bản cho người tham gia tố tụng nghe, giải
thích cho họ biết quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản. Nhận xét đó được
ghi vào biên bản. Người tham gia tố tụng và Điều tra viên cùng ký tên vào biên
bản.
Trong trường hợp người tham gia tố
tụng từ chối ký vào biên bản, thì việc đó phải được ghi vào biên bản và nêu rõ
lý do.
Nếu người tham gia tố tụng vì nhược
điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản
thì phải ghi rõ lý do; Điều tra viên và người chứng kiến cùng xác nhận. Người
không biết chữ thì điểm chỉ vào biên bản.
6) Kết thúc điều tra. Kết thúc điều
tra là việc Cơ quan điều tra đã hoàn thành nhiệm vụ điều tra hoặc hết thời hạn
điều tra bằng việc ra quyết định đề nghị truy tố hay quyết định đình chỉ vụ án.
Trong quá trình điều tra vụ án, khi đã có đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và
người phạm tội thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và quyết định đề
nghị truy tố bị can trước Tòa án. Bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra phải
nêu rõ đầy đủ hành vi phạm tội cùng những chứng cứ chứng minh tội phạm và người
phạm tội đồng thời cũng phải nêu rõ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội và các
kiến nghị khắc phục, giải quyết. Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng,
năm, họ tên, chức vụ, chữ ký của người làm bản kết luận điều tra. kèm theo bản
kết luận điều tra phải có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã
được áp dụng có ghi rõ thời hạn tạm giữ, tạm giam, vật chứng, việc kiện dân sự,
biện pháp để đảm bảo việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản nếu có.
7) Kiểm sát điều tra và các quyết
định của Viện kiểm sát khi kết thúc điều tra. VKS có chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nói riêng và các hoạt động TTHS
nói riêng đồng thời thực hành quyền công tố.
Hoạt động kiểm sát tuân theo pháp
luật trong hoạt động điều tra của VKS nhằm mục đích: a) Đảm bảo để mọi hàmh vi
phạm tội đều phải được điều tra xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội,
không làm oan người vô tội; b) Bảo đảm để không một người nào có thể bị bắt, tạm
giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, tài sản,
danh dự, nhân phẩm một cách trái pháp luật; c) Bảo đảm mọi hoạt động điều tra
phải phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật TTHS; d) Bảo đảm việc truy cứu
TNHS đối với bị can có căn cứ và hợp pháp.
Để thực hiện các nghĩa vụ trên
trong quá trình điều tra VKS được tiến hành các hoạt động sau: a) Kiểm sát việc
khởi tố, tự mình khởi tố vụ án HS, khởi tố bị can và chuyển đến Cơ quan điều
tra để tiến hành hoặc trực tiếp tiến hành điều tra trong những trường hợp Bộ luật
TTHS quy định; b) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều
tra trong những trường hợp quy định của Bộ luật TTHS; c) Quyết định áp dụng,
thay đổi huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị
can; d) Đề ra yêu cầu điều tra, trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung, yêu cầu
Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi phạm
pháp luật của điều tra viên nếu có; đ) Kiểm sát việc khám xét, khám nghiệm, việc
hỏi cung bị can và các hoạt động điều tra khác của Cơ quan điều tra, trực tiếp
hỏi cung bị can khi thấy cần thiết; e) Quyết định truy tố, đình chỉ hoặc tạm
đình chỉ điều tra, chuyển vụ án, huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ
quan điều tra; f) Yêu cầu thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên vi
phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra.
Ngoài ra, còn truy tố bị can trước
Tòa án bằng một bản cáo trạng. Bản cáo trạng là văn bản pháp lý của Viện kiểm
sát thực hiện quyền công tố Nhà nước, truy tố bị can và những hành vi phạm tội
của họ trước Tòa án, đồng thời có quyền khiếu nại đối với hoạt động của Điều
tra viên, Kiểm sát viên.
Trong quá trình THTT, nếu có khiếu
nại về hoạt động của Điều tra viên, Kiểm sát viên thì tiến hành theo thủ tục của
Bộ luật TTHS quy định. Khiếu nại phải được giải quyết trong thời hạn mười lăm
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Trong mọi trường hợp khiếu nại phải nêu rõ
lý do.
5. Bảo vệ quyền con người thông
qua các quy định về xét xử
Xét xử là hoạt động trung tâm của
quá trình giải quyết vụ án HS thể hiện bản chất của nền tư pháp quốc gia nên việc
bảo vệ quyền con người được thể hiện tập trong nhất trong hoạt động xét xử của
Tòa án.
Theo Bộ luật TTHS năm 2003 thì việc
bảo vệ quyền con người được thể hiện thông qua các quy định sau:
5.1. Các nguyên tắc của luật TTHS
được quán triệt trong giai đoạn xét xử
Như đã trình bày ở phần trên, những
nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phương trâm định hướng được áp dung ở
tất cả các giai đoạn của TTHS nên những nguyên tắc đó ở đều được áp dụng trong
giai đoạn xét xử vụ án HS ở những mức độ khác nhau. Chính vì vậy, mọi hoạt động
xét xử của Toà án đều nhằm tới việc bảo vệ quyền con người với hai định hướng
(1) xử lý nhanh chóng, kịp thời đúng pháp luật đối với tội phạm xâm phạm quyền
con người và (2) đảm bảo không làm ảnh hưởng tới quyền con người khi THTT.
1) Ngoài những nguyên tắc cơ bản
đó trong xét xử Luật TTHS con quy định nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời
nói và liên tục với nội dung: a) Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết
của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người
đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng
và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của
đương sự. Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên
tòa; b) Việc xét xử phải tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ.
2) Đảm bảo việc thực hiện tranh tụng
tại phiên tòa.
Theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ
Chính trị về cải cách tư pháp thì tại phiên tòa phải thực hiện tranh tụng nhằm
đảm bảo giải quyết vụ án khách quan khắc phục tình trạng oan sai. Tòa án, VKS
phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để bị cáo, người tham gia tố tụng đặc biệt là
người bào chữa thực hiện quyền tranh tụng và tất cả các quyết định của HĐXX phải
dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên tinh thần đó, Bộ luật TTHS năm
2003 đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục phiên tòa tại Chương XX đảm bảo cho
việc tranh tụng giữa các bên trong vụ án HS.
Quy định về tranh tụng tại phiên
tòa của Bộ luật TTHS năm 2003 là bước tiến quan trọng trong lộ trình cải cách
tư pháp ở nước ta hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo vệ quyền con
người.
3) Đảm bảo thực hành nguyên tắc
hai cấp xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án
HS để đảm bảo tính khách quan, thận trọng tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người
vô tội Bộ luật TTHS quy định nguyên tắc thực hành hai cấp xét xử với nội dung
sau: a) Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử; b) Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật TTHS. Bản án
và quyết định sơ thẩm của Tòa án trong thời hạn luật quy định (15 hoặc 30 ngày)
chưa có hiệu lực pháp luật. Trong thời hạn đó bị cáo và những người tham gia tố
tụng khác có quyền kháng cáo, VKS cùng cấp và VKS trên một cấp có quyền kháng
nghị bản án và quyết định sơ thẩm để xét xử lại theo trình tự phuc thẩm. Đối với
bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử
phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật; c) Bản án, quyết
định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật TTHS quy
định thì có hiệu lực pháp luật; d) Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì
được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
4) Đảm bảo cơ cấu thành phần HĐXX.
Một trong những nguyên tắc cơ bản
của Luật TTHS là khi xét xử có Hội thẩm tham gia. Nguyên tắc này một mặt đảm bảo
quyền của công dân được tham gia vào công việc của nhà nước, bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời giúp cho việc giải quyết vụ án khách
quan phù hợp với thực tế đời sống xã hội. Thể hiện tinh thần đó Bộ luật TTHS
năm 2003 quy định khi xét xử có Hội thẩm tham gia: “Việc xét xử của TAND có Hội
thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định
của Bộ luật này. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” (Điều 15 Bộ luật
TTHS). Thành phần HĐXX sơ thẩm bao gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân,
đối với vụ án phức tạp thành phần Hội đồng xét xét xử bao gồm hai Thẩm phán và
ba Hội thẩm nhân dân. Khi cần thiết HĐXX phúc thẩm cũng có Hội thẩm tham gia. Đối
với những vụ án là người chưa thành niên phạm tội thì tham gia HĐXX phải là những
Hội thẩm có sự hiểu biết về tâm sinh lý trẻ em, phải là người của Đoàn thanh
niên Cộng sản HCM hoặc là giáo viên. Tất cả các trường hợp không có Hội thẩm
tham gia hoặc thiếu số lượng Hội thẩm hoặc thành phần Hội thẩm không đúng như
quy định của pháp luật thì đều bị coi là vi phạm pháp luật tố tụng một cách
nghiêm trọng và đều bị kháng nghị để xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm.
Việc tham gia xét xử của Hội thẩm
là quy định cần thiết mang tính chất bắt buộc và không mang tính hình thức. Luật
TTHS cũng quy định “Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”, tức là Hội
thẩm có quyền và nghĩa vụ như Thẩm phán trong tất cả các khâu của quá trình xét
xử từ nghiên cứu hồ sơ đến việc quyết định các nội dung của bản án theo nguyên
tắc “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số”.
5) Giám đốc việc xét xử.
Giám đốc xét xử là việc Tòa án cấp
trên kiểm tra tính đúng đắn về hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới. Trong thực
tiễn xét xử do những lý do khác nhau Tòa án cấp dưới có những sai lầm, thiếu
xót trong quá trình giải quyết vụ án, vì vậy việc giám đốc của Toà án cấp trên
nhằm khắc phục những sai lầm thiếu sót đó là cần thiết, góp phần vào bảo vệ
pháp chế XHCN, xử lý công minh, không để lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.
Điều 21 Bộ luật TTHS quy định: “Tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của Tòa án
cấp dưới, TANDTC giám đốc việc xét xử của TAND và Toà án Quân sự các cấp để việc
áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất”. Theo quy định này, thì chỉ
có TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên có quyền giám đốc và
TANDTC có quyền giám đốc việc xét xử đối với bản án của tất cả các Tòa án.
Giám đốc việc xét xử thể hiện ở việc
Toà án cấp trên xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án cấp dưới thông qua
các hoạt động: kiểm tra phát hiện những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới;
giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và của công dân về
các bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử;
hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật thống nhất; kháng nghị bản án hoặc
quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc. Thông qua các hoạt động
này Toà án cấp trên kịp thời uốn nắn, khắc phục những sai lầm trong công tác
xét xử của Toà án cấp dưới.
6) Trình tự, thủ tục của việc xét
xử được quy định cụ thể, chặt chẽ đảm bảo việc xét xử khách quan, công bằng góp
phần bảo vệ quyền con người. Trình tự, thủ tục tố tụng nói chung và giai đoạn
xét xử nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án một cách
khách quan, công bằng. Vì vậy, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định cụ thể trình tự,
thủ tục của chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám
đốc thẩm nhằm đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật,
không làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm.
6. Bảo vệ quyền con người thông
qua các quy định về thi hành bản án
Thi hành bản án là giai đoạn cuối
của quá trình giải quyết vụ án HS và nó cũng ảnh hưởng không ít tới quyền con
người nên luật TTHS cũng quy định trình tự thủ tục cụ thể để tránh sự lợi dụng
xâm phạm quyền con người.
6.1. Điều kiện để bản án và quyết
định được mang ra thi hành
- Những bản án và quyết định được
thi hành là những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm: a) Những
bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
trình tự phúc thẩm; b) Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; c)
Những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong trường hợp bị
cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết
tội, miễn TNHS, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc
phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời
hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc
dù vẫn có thể bị kháng nghị, kháng cáo.
- Quyết định thi hành bản án của
Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định hoặc ủy thác cho Toà án khác
cùng cấp ra quyết định thi hành án.
6.2. Thủ tục
- Quyết định thi hành án phải ghi
rõ họ tên người ra quyết định; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành bản án hoặc quyết
định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; bản án hoặc
quyết định mà người bị kết án phải chấp hành.
- Trong trường hợp người bị kết án
đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại Cơ quan công an
để thi hành án.
- Quyết định thi hành án, trích lục
bản án
hoặc quyết định phải được gửi cho
VKS cùng cấp nơi thi hành án, cơ quan thi hành án và người bị kết án.
- Trong trường hợp người bị kết án
phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn, thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi
hành án yêu cầu Cơ quan công an cùng cấp ra quyết định truy nã.
6.3. Trình tự thi hành các hình phạt
cụ thể bao gồm
1) Thi hành hình phạt tử hình; 2)
Thi hành hình phạt tù và các hình phạt khác (hình phạt tù, hình phạt tù cho hưởng
án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt trục xuất, hình phạt quản
chế hoặc cấm cư trú, hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản) và
3) Giảm thời hạn hoặc miễn chấp
hành hình phạt sẽ được đề cập trong Phần V Chương thứ ba này).
6.4. Xóa án tích
6 . 4 . 1 . Đương nhiên xóa án
tích
Theo yêu cầu của người được đương
nhiên xóa án tích quy định tại Điều 64 của BLHS, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm
vụ án cấp giấy chứng nhận là họ đã được xóa án tích.
6.4.2. Xóa án tích do Toà án quyết
định
Người bị kết án phải có đơn gửi
Toà án đã xử sơ thẩm vụ án kèm theo nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn
hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc. Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm
chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho VKS cùng cấp để phát biểu ý kiến bằng
văn bản. Nếu xét thấy đủ điều kiện thì Chánh án ra quyết định xóa án tích;
trong trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích.
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên),
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
[2] Bộ luật TTHS nước CHXHCN Việt
Nam năm 1988, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
[3] Bộ luật TTHS nước CHXHCN Việt
Nam
năm 2003, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2004. [4] Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), Bảo
vệ các quyền con người bằng
pháp luật HS và pháp luật TTHS
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
[5] Chu Hồng Thanh, Tìm hiểu về
nhân quyền trong thế giới hiện đại, NXB Lao động, Hà Nội, 1996.
The protection of human rights by
law on criminal procedure
Nguyen Ngoc Chi*
Faculty of Law, Vietnam National
University, Hanoi,
144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi,
Vietnam
The author analyzed the protection
of human rights by Law on Criminal Procedure through some contents such as:
1. Basic norms of Law on Criminal
Procedure
2. Regulations of Law on Criminal
Procedure about preventive measures
3. Regulations of Introduction of
instance to Criminal Cases
4. Regulations of Investigation -
Prosecution
5. Regulations of Implementing
Criminal Verdicts
*Tel.: 84-04-7160796
E-mail: chinn@vnu.edu.vn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét