Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Góc nhìn hệ thống pháp luật Việt Nam

Đọc sơ để lấy ý tưởng, vd như đặt vấn đề về người nước ngoài, việt kiều...


Góc nhìn hệ thống pháp luật Việt Nam - My sight about Vietnam's system of law

          Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, trú trọng và coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để tiếp tục thực hiện, đẩy mạnh hơn công cuộc cải cách tư pháp, ngày 02 tháng 01 năm 2002 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các nghị quyết trên đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin làm rõ vấn đề "Bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này".

I.       PHÂN TÍCH NỘI DUNG PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ BẮT NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.     Bắt người một biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự
          Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự quy định nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau, trong đó có biện pháp ngăn chặn. Biện pháp ngăn chặn được quy đinh tại chương VI của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS), được hiểu là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự có thể áp dụng được áp dụng đối bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án (theo Điều 79 BLTTHS).
          BLTTHS quy định có 6 biện pháp ngăn chặn khác nhau, và trong đó có biện pháp ngăn chặn bắt người. Biện pháp bắt người được quy định trong BLTTHS tại các Điều từ 80 đến 85 và tại Điều 303. Theo đó, biện pháp ngăn chặn bắt người được hiểu là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị an, bị cáo, người bị truy nã hoặc áp dụng đối với người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hay phạm tội quả tang nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hay trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Bắt người là một biện pháp cưỡng chế, bởi vậy biện pháp mang tính "bắt buộc" và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Khi biện pháp bắt người được thực thi sẽ tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể của con người, một trong các quyền cơ bản và quan trọng của công dân, con người được Hiếp pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Vậy nên, khi áp dụng, cơ quan, người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự cần phải cân nhắc ký lưỡng, xác định đúng mức độ cần thiết, thực hiện đúng trình tự, thủ tục khi quyết định việc bắt cũng như khi thi hành. Nếu bắt người hay thi hành lệnh bắt trái pháp luật sẽ xâm hại đến quyền tự do thân thể của công dân, của con người, làm giảm uy tín của Nhà nước, gây hoang mang dư luận, trái với pháp luật quốc tế về nhân quyền, ngoài ra có thể bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để xuyên tạc, diễn biến hòa bình.
          Trở lại quá khứ lập pháp trước khi Bộ luật tố dụng hình sự năm 2003 ra đời, biện pháp ngăn chặn bắt người đã được điều chỉnh bởi Luật số 103-SL/L005 ngày 20/05/1957, Sắc luật số 002-SLt ngày 18/06/1957, Sắc luật số 02-SL ngày 15/03/1976 và Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta (Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988). Trong thời gian thực hiện những văn bản pháp luật tố tụng hình sự vừa nêu, việc áp dụng hiện pháp bắt người trong tố tụng hình sự đã phát huy được tác dụng quan trọng trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm. Trải qua thời gian dài áp dụng, bởi những đổi thay không ngừng của kinh tế - văn hóa- xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, nội dung điều chỉnh đã bộc lộ sự hạn chế, bất cập và không phản ánh đúng như cầu thực tiễn. Bộ luật tố dụng hình sự năm 2003 được quốc hội ban hành là hoàn toàn đúng đắn và phản ánh kịp thời như cầu điều chỉnh thống nhất, cụ thể của thực tiến, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.  
2.     Các trường hợp bắt người
          Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định biện pháp ngăn chặn bắt người bao gồm ba trường hợp là: bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80); bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81); bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82).
2.1.    Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Trong tố tụng hình sự, bị can là người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 49 BLTTHS), còn bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét sử (khoản 1 Điều 50 BLTTHS). Bởi vậy, bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể hiểu là biện pháp ngăn chặn bắt người do người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự áp dụng đối với người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử khi xét thấy cần thiết, theo thủ nhất nhất định, nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Trên cơ sở định nghĩa, chúng ta thấy rõ trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam mang những đặc điểm sau:
-         Thứ nhất, bắt bị can, bị cáo để tạm giam là biện pháp ngăn chặn bắt người do người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự quyết định áp dụng. Để đảm bảo cho công tác áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam được thống nhất, hiệu quả và phù hợp với các giai đoạn trong quá trình tố tung hình sự, tại khoản 1 Điều 80 BLTTHS quy định những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam cụ thể như sau:
Ø  Trong giai đoạn điều tra, Thủ thưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam, tuy nhiên trước khi thi hành, lệnh bắt phải được Viện kiểm soát cùng cấp phê chuẩn. Việc phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp đối với lệnh bắt bị can do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra là yêu cầu pháp lý bắt buộc, mới làm phát sinh hiệu lực và giá trị thi hành của lệnh bắt. Quy định như vậy sẽ phản ánh đúng đắn và phù hợp với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát. Cụ thể, khi xem xét lệnh bắt, Viện kiểm sát sẽ kiểm tra các căn cứ, tính cần thiết và tính hợp pháp của lệnh bắt để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Cùng với đó, Viện kiểm sát có thể hạn chế sự làm dụng quyền của cơ quan điều tra.
Ø  Trong giai đoạn truy tố, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam.
Ø  Trong giai đoạn xét xử, Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử có quyền ra lênh bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
-         Thứ hai, đối tượng áp dụng lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bị can, bị cáo. Như vậy, những người không phải là bị can thì không bị áp dụng lệnh bắt bị can để tạm giam, người không phải là bị cáo thì không bị áp dụng lệnh bắt bị cáo để tạm giam.
-         Thứ ba, bắt bị can, bị cáo để tạm giam khi thấy xét cần thiết. Trong BLTTHS, nhà làm luật không quy định cụ thể việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam được áp dụng trong trường hợp nào. Theo quy chung về biện pháp ngăn chặn tại Điều 79 BLTTHS, có thể hiểu rằng, không phải mọi bị can, bị cáo đều bị áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà chỉ khi xét thấy thật sự cần thiết thì cơ quan, người có thẩm quyền mới ra lệnh bắt. Mục đích của biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp này là để tạm giam, bởi vậy, khi ra quyết định, cơ quan, người có thẩm quyền cần xét xét bị can, bị cáo có cần thiết phải bắt để tạm giam hay không. Cụ thể, việc xem xét tính cần thiết thông qua các phương diện sau: lại tội phạm đã thực hiện, tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
-         Thứ tư, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải thực hiện theo thủ tục nhất định. Cụ thể, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có lệnh của người có thẩm quyền, đúng với tư cách pháp lý tố tụng của đối tượng áp dụng cũng như phù hợp với giai đoạn cụ thể trong quá trình tố tụng. Lệnh bắt phải có đầy đủ những nội dung sau: ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu. Như vậy, nếu lệnh bắt không đúng thẩm quyền, lệnh miệng. lệnh không đầy đủ yêu cầu về nội dung đã nêu, hoặc không có chữa ký và chưa được đóng dấu đều không có giá trị thi hành, nếu cứ áp dụng thì được coi là vi phạm thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Khi thi hành lệnh bắt, người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt. Người bị bắt có quyền yêu cầu người thi hành lệnh bắt đọc toàn bộ lệnh bắt, giải thích lệnh, có quyền yêu cầu được xem lệnh bắt khi được người thi hành lênh bắt chấp nhận. Nhờ vậy, người bị bắt có điều kiện biết được rõ tại sao mình bị bắt, biết được tính hợp pháp của lệnh bắt, đồng thời, thể hiện tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố dụng hình sự. Khi bắt, người thi hành lệnh bắt phải lập biện bản theo quy định tại Điều 84 BLTTHS (xem tiểu mục 5 của mục II bài viết này). Khi tiến hành bắt người phải có người chứng kiến, được quy định cụ thể như sau: khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến; khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến; khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
2.2.    Bắt người trong trường hợp khẩn cấp
"Khẩn cấp" được hiểu là tình trạng cấp bách, không thê trì hoãn. Ngay tên gọi "Bắt người trong trường hợp khẩn cấp" đã phản ánh được phần nào tính chất của trường hợp bắt người này. Có thể hiểu rằng, bắt người trường hợp khẩn cấp là biện pháp bắt người được áp dụng trong hoàn cảnh cấp bách, không thể trì hoãn khi có đủ các căn cứ pháp luật quy định.
·        Những trường hợp được bắt khẩn cấp
Cụ thể, khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:
-         Trường hợp thứ nhất, khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
     Theo Điều 17 BLHS([1]), chuẩn bị thực hiện tội phạm là việc một người hay một nhóm người nào đó tiến hành tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm. Điều 17 BLHS còn quy định "Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện", do vậy, đối với trường hợp thứ nhất, nhà làm luật chỉ quy định khi có căn cứ để cho rằng ai đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mới có quyền bắt khẩn cấp. Nếu tội phạm mà người chuẩn bị thực hiện tội phạm định thực hiện chỉ là tội phạm ít nghiêp trọng hay tội phạm nghiêm trọng thì dù sau đó có đủ căn cứ chứng minh là người này đã thực hiện chuẩn bị phạm tội, họ cũng không phải chịu bất cứ trách nhiệp hình sự nào. Hay có thể hiểu là nhà làm luật nội dung – BLHS, cho rằng người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội những tội phạm ít nghiêm trọng hay tội phạm nghiêm trọng có tính nguy hiểm cho xã hội không cao đến mức phải gách chịu trách nhiệm hình sự, bởi vậy không phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn đặc biệt như bắt khẩn cấp để đấu tranh, phòng chống, từ đó mà luật hình thức – BLTTHS, quy định như vậy.
     Trường hợp bắt khẩn cấp thứ nhất này thường được áp dụng sau khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện một thời gian quá trình theo dõi, thực hiện các biện pháp nghiệm vụ phòng, chống tội phạm hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin báo rằng một hay một số người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm.
-         Trường hợp thứ hai, khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
     Có thể thấy rằng, việc người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy thực hiện việc xác nhận sự việc được diễn ra sau thời điểm tội phạm được thực hiện và người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị bắt ngay. Trên thực tế, chúng ta thường thấy nhiều trường hợp người bị hại hoặc người có mặt tại nơi sảy ra tội phạm chính mắt trong thấy tội phạm được diễn ra và người thực hiện tội phạm, sau đó đến tố giác tại cơ quan công an và xác nhận rõ ràng người thực hiện tội phạm là ai. Việc xác nhận mang tính khẳng định và rõ ràng, không được chấp nhận những xác nhận chủ quan, cảm tính và chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Sau khi có sự xác nhận cụ thể và rõ rằng, nếu cơ quan có thẩm quyền xác minh và xét thấy có căn cứ chứng tỏ người đã được xác minh là người thực hiện tội phạm bỏ trốn và cần phải ngăn chặn ngay thì được áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp. Những căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi phạm tội bỏ chốn có thể là: đang có hành vi bỏ trốn, đang chuẩn bị bỏ chốn, không có nơi cư trú rõ ràng, đối tượng không có nhân thân rõ ràng,…
-         Trường hợp thứ ba, khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
     Biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp thuộc trường hợp thứ ba này được áp dụng khi có đủ hai điều kiện sau:
Ø  (1)Thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm. Để thấy được dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm, cơ quan, người có thẩm quyền phải tiến hành khám người, khám chỗ ở, xem xét các dấu vết trên thân thể hay chỗ ở, kiểm tra hành chính và các hoạt động hợp pháp khác có thể tìm ra dấu vết của tội phạm. Dấu viết của tội phạm có thể tìm thấy thường là công cụ, phương tiện phạp tội, đối tượng của tội phạm,… 
Ø  (2)Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ. Dù thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm nhưng không có đủ căn cứ chứng minh rằng người đó bỏ chốn hoặc đang tiêu hủy chứng cứ thì vẫn không được áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Việc xem xét căn cứ để xác định người đó có bỏ chốn hay không tương tự nội dung tương ứng đã trình bày ở trường hợp thứ hai. Việc xem xét căn cứ để xác định người đó có đang tiêu hủy chứng cứ hay không thông qua việc làm rõ người đó có hay không hành vi: đang xóa dấu vết  tội phạm, đang cất dấu hay tiêu hủy công cụ, phương tiện phạm tội, đang làm sai lệch hiện trường,… làm mất đi các chứng cứ gây khó khăn cho công tác điều tra tội phạm.
·  Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp bao gồm:
-          Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp.
-         Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
-         Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
Đặt câu hỏi, tại sao nhà làm luật không trao quyền bắt người cho Viện kiểm sát hay Tòa án? Có thể lý giải gắn gọn rằng, chức năng, nghiệp vụ của Viện kiểm sát cũng như Tòa án không phù hợp với việc phải tổ chức xác định các căn cứ áp dụng, tổ chức cử cán bộ thi hành, đồng thời nếu trao quyền cho họ sẽ không đảm bảo tính cấp thiết và nhanh chóng của trường hợp bắt người này. Trong khi đó, những người mà nhà làm luật trao quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp quy định trong BLTTHS là phù hợp và có điều kiện thỏa mãn những yêu cầu đã nêu.
·  Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp
          Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định: "Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này.", như vậy, nội dung vấn đề này giống với nội dung đã trình bày tại đặc điểm thứ tư của trường hợp bắt bị bị can, bị cáo trong tiểu mục 2.1 của mục I bài viết này.
·  Việc phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Theo khoản 4 Điều 81 BLTTHS, trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn. Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều 81 BLTTHS. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt. Với những quy định chặt chẽ, cụ thể về vấn đề phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, nhà làm luật đã tạo điều kiện đảm bảo tính chính xác việc áp dụng khi có căn cứ cũng như tránh trường hợp nóng vội, chủ quan xâm hại đến quyền tự do thân thể của công dân.
2.3.    Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
·        Thế nào là bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã?
BLTTHS quy định hai trường hợp là bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã chung tại một điều luật là Điều 82, theo đó hai trường hợp bắt người này được hiểu như sau:
-         Bắt người phạm tội quả tang
Theo từ điển Tiếng Việt([2]), "quả tang" có nghĩa là có tang vật dành dành, tức có chứng cứ dành dành. Suy ra, phạm tội quả tang là phạm tội có chứng cứ dành dành, rõ ràng, không cần phải kiểm tra, xác minh. Bắt người phạm tội quả tang là trường hợp bắt người áp dụng đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Theo khoản 1 Điều 82 BLTTHS, phạm tội quả tang bao gồm ba trường hợp sau:
ü  Trường hợp thứ nhất, người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. "Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa kết thúc việc phạm tội thì bị bắt"([3]). Hành vi đang thực hiện tội phạm là hành vi đã và đang tiếp tục xâm hại đến khách thể được sự bảo vệ bởi pháp luật hình sự. Đối với một số tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức thì dù hành vi đang thực hiện chưa gây ra hậu quả nhưng vấn được coi là hành vi đang thực hiện tội phạm. Hành vi đang thực hiện tội phạm có thể diễn ra trong một thời gian ngắn như hành vi cướp giật tài sản, chộm cắp tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên, cướp tài sản,… ; có thể diễn ra trong một thời gian dài như tàng trữ trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng,…
ü  Trường hợp thứ hai, người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Đây là trường hợp người thực hiện tội phạm vừa thực hiện xong, chưa kịp chạy chốn hoặc đang xóa dấu vết hoặc đang dấu công cụ, phương tiện phạm tội thì bị những người có mặt tại hiện trường phát hiện và bị bắt giữ.
ü  Trường hợp thứ ba, người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy chốn và bị đuổi bắt. Việc đuổi bắt phải diễn ra liền ngay sau hành vi chạy chốn của người thực hiện tội phạm và phải diễn ra liên tục. Nếu việc đuổi bắt không đạt kết quả, tức không bắt được người thực hiện tội phạm thì kể từ sau đó, việc bắt người này không thuộc trường hợp bắt người phạm tội quả tang.
-         Bắt người đang bị truy nã
Theo BLTTHS, người bị truy nã có thể là người đã bị khởi tố về hình sự, đã có tư cách tố tụng là bị can, bị cáo hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang thi hành hình phạt tù tại trại giam thực hiện hành vi bỏ chốn, bị cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng hình sự ra quyết định truy nã. Trên thực tế, việc bắt người đang bị truy nã cũng mang tính cấp thiết giống như việc bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bởi vậy mà nhà làm luật đã quy định chung hai trường hợp bắt người này vào cũng một điều luật với nội dung quy định như nhau về thẩm quyền bắt người và thủ tục bắt người.
·        Thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Theo quy định tại khoản 1 Điều 82 BLTTHS, pháp luật tố tụng hình sự cho phép bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Với sự quy định thẩm quyền bắt là không có giới hạn, nhà làm luật muốn huy động và phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm tạo điều kiện ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội và trốn tránh pháp luật của người phạm tội, nhờ vậy bảo vệ  lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
·        Thủ tục bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Khác với việc áp dụng trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam và trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã không cần phải có lệnh của cơ quan hay người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự. Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt. Việc cần phải tước vũ khí, hung khí ngay là vô cùng cần thiết, khi đó sẽ loại bỏ được điều kiện tiếp tục phạm tội của người bị bắt hay chống cự lại người bắt. Sau khi bắt được người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, người bắt (một người hay nhiều người) giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
3.     Có được bắt người vào ban đêm không?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 80 BLTTHS, không được bắt người vào ban đêm trong trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau – khoản 1 Điều 96 BLTTHS). Còn lại, các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã được áp dụng vào bất cứ thời gian nào trong ngày. Có thể nhà làm luật cho rằng việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam không yêu cầu tính cấp thiết đến mức phải thi hành ngay cả vào ban đêm, khi mà cần giữ trật tự bởi quần chúng nhân dân đang trong thời gian nghỉ ngơi sau thời gian dài làm việc trong ngày. Đồng thời, do tính cấp thiết, cấp bách và không thể trì hoãn của các trường hợp bắt người còn lại, nhà làm luật không giới hạn thời gian khi áp dụng. Đường lối áp dụng về thời gian mà nhà làm luật xác định là hoàn toàn đúng đắn, phản ánh đúng yêu cầu khách quan.
4. Những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt là gì?
Sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt. Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã. Trong trường hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết. Sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất.
5.     Biên bản về việc bắt người
          Biên bản về việc bắt người gồm biên bản bắt người và biên bản giao nhận người bị bắt.
-         Biên bản bắt người (khoản 1 Điều 84 BLTTHS)
Người thi hành lệnh bắt trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và những khiếu nại của người bị bắt. Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, người thi hành lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên. Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu của người bị bắt phải được tiến hành theo quy định trong BLTTHS.
-         Biên bản giao nhận người bị bắt (khoản 2 Điều 84 BLTTHS)
          Ngoài những điểm đã quy định như đối với biên bản bắt người đã nêu, biên bản giao nhận còn phải ghi rõ việc bàn giao các biên bản lấy lời khai, đồ vật, tài liệu đã thu thập được, tình trạng sức khoẻ của người bị bắt và mọi tình tiết xảy ra lúc giao nhận.
          Yêu cầu pháp lý phải lập biên bản về việc bắt người đã tạo ra tính công khai, minh bạch trong quá trình bắt người, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi người bị bắt, đồng thời là nguồn lại liệu quan trọng phục vụ các hoạt động tố tụng hình sự sau này.
6.     Thông báo về việc bắt người
          Điều 85 BLTTHS quy định như sau: "Người ra lệnh bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho gia đình người đã bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết. Nếu thông báo cản trở việc điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay.". Pháp luật tố tụng hình sự yêu cầu phải thông báo về việc bắt người là hoàn toàn hợp lý, bới nếu không thông báo cho những đối tượng này, có thể họ sẽ tổ chức việc tìm kiếm hay thông báo về việc mất tích cũng như có thể gây tâm lý lo lắng, hoang mang cho gia đình, người thân của người bị bắt, và có thể gây tổ hao nhiều tiền của và công sức của họ.
7.     Bắt người chưa thành niên
          Người chưa thành niên là nhóm người có độ tuổi từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi. Do những đặc điểm đặc thù của đối tượng này, đồng thời vận dụng chính sách nhân đạo của pháp luật, nhà làm luật quy định thủ tục tố tụng hình sự đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên tại Chương XXI – Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên, thuộc phần thứ bảy quy định về thủ tục đặc biệt của BLTTHS. Trong đó, việc bắt người chưa thành niên theo quy định tại Điều 303 BLTTHS như sau:
-         Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82 của BLTTHS, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
-         Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82 của BLTTHS, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
-         Cơ quan ra lệnh bắt người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt.
8.     Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người đối với người nước ngoài
Khi bắt người nước ngoài phạm tội, ngoài việc tuân theo các quy định từ Điều 79 đến Điều 82 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), còn phải tuân theo quy định của các văn bản pháp luật khác. Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, họ có thể là người không có quốc tịch hoặc có quốc tịch nước khác hiện đang sinh sống tại Việt Nam, họ có địa vị pháp lý khác nhau nên khi phạm tội thì thẩm quyền, thủ tục bắt họ cũng khác nhau.
Đối với người nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và lãnh sự: theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh về quyền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993 thì viên chức ngoại giao được hưởng quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được đối xử trọng thị, họ không thể bị bắt, bị tạm giữ dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu họ phạm tội quả tang thì cơ quan có thẩm quyền chỉ lập biên bản, thu giữ vật chứng, sau đó trả tự do cho họ và báo cáo ngay lên lãnh đạo Bộ Công an, cơ quan đại diện ngoại giao biết để phối hợp, xử lý. Các thủ tục tiếp theo giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Đối với người nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và lãnh sự: phạm tội trên lãnh thổ nước Việt Nam. Theo Công văn số 318/CV-BNV(V11) ngày 29/3/1992 của Bộ Công an trong về việc báo cáo xin ý kiến trước khi bắt, giam giữ một số đối tượng đặc biệt, thì việc bắt người nước ngoài phạm tội phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo Bộ trước khi bắt; nếu phạm tội quả tang thì ngay sau khi bắt phải báo cáo nhanh nhất lên lãnh đạo Bộ.
II.                HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NÀY
So với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đã quy định một cách chặt chẽ và cụ thể hơn căn cứ và điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người, đề cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người, nhất là trách nhiệm của Viện kiểm sát, qua đó đảm bảo thực hiện tốt hơn những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự quy định tại chương II BLTTHS , trong đó có nguyên tắc "Tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân" (Điều 4), nguyên tắc "Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân" (Điều 6) và nguyên tắc "Bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân" (Điều 7).
Trải qua 8 năm áp dụng và thực tiễn, trước sự thay đổi không những về mọi mặt của đời sống xã hội, những quy định về bắt người trong tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành ít nhiều bộc lộ nhưng bất cập, hạn chế, vướng mắc khi áp dụng. Từ tìm hiểu thực tiễn áp dụng và tham khảo ý kiến của các chuyên gia pháp lý, em thấy cần phải sửa đổi, hoàn thiện một số quy định về biện pháp ngăn chặn bắt người trong BLTTHS hiện hành để tạo ra sự thống nhất, chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng một cách chính xác và nâng cao hiệu quả áp dụng cũng như đảm bảo tuân thủ nghiêm chỉnh tất cả các nguyên tác cơ bản trong tố tụng hình sự, cụ thể như sau:
Thứ nhất, BLTTHS cần có quy định về bắt người là những "đối tượng đặc biệt".
Trong BLTTHS chưa có điều luật nào quy định việc bắt người là "đối tương đặc biệt" như: đại biểu dân cử; đảng viên; cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; người thủ lĩnh, người có danh tiếng, có uy tín lớn trong các dân tộc ít người; người có chức sắc trong các tôn giáo; tri thức, nhân sĩ có tên tuổi, văn nghệ sĩ có tiếng tăm được trong nước và thế giới chú ý tới và người nước ngoài. Trong khi hiện nay vấn đề này lại được thể hiện trong một số văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, văn bản của Đảng, như: Luật Tổ chức Quốc hội, luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Công văn số 318/CV-BNV(V11) ngày 29/3/1992 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc xin ý kiến trước khi bắt, giam, giữ một số đối tượng đặc biệt; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16/3/2000 của Bộ Chính trị về phạm vi, trách nhiệm, quyền hạn giữa các cấp ủy Đảng với Đảng ủy Công an, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân trong công tác bảo vệ Đảng và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên; Hướng dẫn số 05-HD/NCTW ngày 15/01/2001 của Ban Nội chính Trung ương về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xử lý tội phạm theo tinh thần chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16/3/2000 của Bộ Chính trị về việc bắt giữ các đối tượng đặc biệt. Hệ quả là, việc áp dụng biệt pháp bắt người đối với họ còn sảy ra vấn đề lúng túng, vướng mắc cũng như không đảm bảo tính thống nhất. Thiết nghĩa, nhà làm luật cần pháp điển hóa quy định về việc thực hiện biện pháp bắt người áp dụng đối với một số "đối tượng đặc biệt" đã nêu và thể hiện trong BLTTHS sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới để đảm bảo thống nhất và thuận tiện cho việc áp dụng.
Thứ hai, cần bổ sung quy định về vấn đề phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Tại khoản 4 Điều 81 BLTTHS có quy định: "Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn". Vấn đề phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn sẽ có thể diễn ra bình thường khi mà người ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các câp, người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới. Tuy nhiên, đối với trường hợp mà người ra lệnh là người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng thì việc xác định "Viện kiểm sát cùng cấp" là rất khó. Đặc biệt, khi tàu bay đang bay trên bầu trời hay tàu biển trang ở trên biển thì việc phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn dường như là không thể thực hiện được.  Bởi vậy, em cho rằng, khoản 4 Điều 81 cần bổ sung một nội dung sau: "đối với trường hợp người ra lệnh bắt khẩn cấp là người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng thì thẩm quyền xem xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là Viện kiểm sát nơi có sân bay hay bến cảng trở về đầu tiên hay nơi tàu bay, tàu biến đó được đăng ký".
Thứ ba, có nên quy định trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã vào cùng một Điều luật.
Hiện tại, tại Điều 82 BLTTHS, nhà làm luật quy định "Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất". Về lý luận cũng như qua thực tiễn áp dụng cho thấy rằng việc quy định hai trường hợp là bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã vào cùng một điều luận và quy định giống nhau về thẩm quyền bắt và thủ tục bắt là không phù hợp, bởi đối tượng áp dụng và những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt ở hai trường hợp này có sự khác nhau. Cụ thể, về đối tượng, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang chưa phải là bị can, bị cáo; còn người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã là người đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam hay đang chấp hành án phạt tù thì bỏ trốn mà cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định truy nã. Về những việc cần làm ngay sau thi bắt hoặc nhận người bị bắt, đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang họ có thể bị giam giữ hoặc không bị giam giữ theo Điều 86 BLTTHS; còn người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã thì sau khi bị bắt, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải áp dụng biện pháp tạm giữ hoặc tạm giam đối với họ. Em cho rằng nên tách hai trường hợp bắt người này ra và quy định thành hai điều luật riêng độc lập.
Thứ tư, có nên quy định vấn đề "những việc cần phải làm khi bắt hoặc nhận người bị bắt" thành một điều luật riêng độc lập là Điều 83 BLTTHS.
Tại Điều 82 BLTTHS, nhà làm luật mới quy định về thẩm quyền bắt người và thủ tục bắt người đối với người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã mà chưa thể hiện nội dung về những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt. Vấn đề ấy lại được thể hiện trong Điều 83 như sau: khoản 1 quy định những vấn đề cần phải làm sau khi tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang; khoản 2 quy định những việc cần phải làm sau khi tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã. Thiết nghĩ, kết hợp với phương hướng đã nêu ở vấn đề thứ ba ở trên, nên bỏ điều 83 rồi quy định ba trường hợp bắt người là bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang và bắt người trong trường hợp truy nã thành ba điều luật riêng và thể hiện đầu đủ ba nội dung: căn cứ áp dụng, thẩm quyền và thủ tục bắt, những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt. Việc làm này sẽ đảm bảo tính khoa học hơn, tạo nên sự rõ ràng và dễ áp dụng vào thực tiễn với mỗi trường hợp.
Thứ năm, cần xem xét lại quy định về những việc được làm trong khi tiến hành bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Khoản 2 Điều 82 BLTTHS quy định như sau: "khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt". Xét trên thực tế, nhiều trường hợp người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thường có vũ khí và rất dễ chống trả ngay nếu bị bắt giữ, đặc biệt là có thể họ cất dấu trong người (như dao, súng, bom mìn, thuốc nổ,…) . Cho nên, nếu không quy định quyền của người bắt được thực hiện một cách chính xác, chặt chẽ thì rất khó khuyến khích quần chúng nhân dân tích cực tham gia công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. Em cho rằng cần quy định thêm nội dung là khi bắt người người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền lục soát người bị bắt để tước những công cụ, phương tiện có thể được dùng để chống trả lại người bắt. Vậy nên, khoản 2 Điều 82 BLTTHS nên được sửa đổi, bổ sung như sau: "Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt đang sử dụng và lục soát người bị bắt để tước những công cụ, phương tiện khác mà người bị bắt có thể dùng để chống trả".
Thứ sáu, quy định về thông báo về lệnh bắt không giới hạn thời thông báo liệu có thể dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện.
Dựa vào quy định tại Điều 85 BLTTHS có thể thấy, việc thông báo về việc bắt người chỉ được diễn ra sau khi việc bắt đã được thực hiện. Quy định việc bắt "phải thông báo" đã không xác định thời gian cụ thể là bao lâu, chính vì vậy mà dễ sảy ra trường hợp áp dụng quy định một cách tùy tiện, có thể để lại hệ quả là sự hoang mang, lo lắng cho gia đình, người thân của người bị bắt, có khi họ phải hao tốn công sức và tiền của để tìm kiếm do việc thông báo là quá muộn.

          Để thực hiện một cách chính xác, đúng đắn biện pháp ngăn chặn bắt người thì yêu cầu trước tiên là cần phải hiểu một cách sâu sắc và đầy đủ những quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về bắt người. Như đã trình bày, Bộ luật hình sự năm 2003 đã quy định chi tiết và rõ ràng về biện pháp ngăn chặn bắt người, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thuận tiện trong quá trình áp dụng. Người có thẩm quyền áp dụng cần nghiêm chỉnh những gì pháp luật quy định để trách xảy ra những quyết định sai trái hay lạm dụng. Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để người dân biết và có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp, nhà làm luật cần có những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời, trong đó có những nội dung em đã mạnh dạn trình bày.


[1] Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009)
([2]) Từ điển Tiếng Việt, Khoa hoc – Xã hội – Nhân văn/Viện ngôn ngữ, Nxb. Văn hóa thông tin, 2009
([3]) Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb.CAND, Hà Nội, 2009, Tr 211-212

--
tetekh!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét