Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Thủ tục CÔNG CHỨNG đối với người bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù

Bài này cung cấp 1 góc nhìn khác về ảnh hưởng đến người bị ngăn chặn
Từ đó em có thể tiên lượng được nhiều ảnh hưởng khác đến họ để nâng tầm lên thành lý luận
Nguồn: http://www.thanhtravietnam.vn/vi-VN/Home/magazinestory.aspx?ID=567

Cho phép thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch do người bị tạm giữ, tạm giam hay đang thi hành án phạt tù giao kết là một quy định tương đối mới của Luật Công chứng ngày 29/11/2006.
Xét về bản chất pháp lý, phạt tù (bao gồm “tù có thời hạn” và “tù chung thân”) là hình phạt chính được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trong khi đó, “tạm giữ” và “tạm giam” lại là hai biện pháp ngăn chặn được quy định tại Chương V, Phần thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Chính vì vậy, chúng ta có thể chia người yêu cầu công chứng là "người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù" thành hai nhóm cơ bản, gồm: Nhóm những người đang bị tạm giữ, tạm giam và nhóm những người đang thi hành án phạt tù. Do tạm giữ, tạm giam và án phạt tù có bản chất pháp lý hoàn toàn khác nhau nên thủ tục công chứng cho 2 nhóm người yêu cầu công chứng kể trên cũng có sự khác biệt nhất định.
1. Đối với nhóm những người đang bị tạm giữ, tạm giam:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 46, Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009, một trong các tình tiết để người phạm tội được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quảGiả thiết đưa ra ở đây là người phạm tội trong quá trình bị tạm giữ, tạm giam muốn chuyển nhượng tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại hay khắc phục hậu quả có phải đáp ứng thêm điều kiện pháp lý nào hay không? Về tổng thể, có ba phương án trả lời cho câu hỏi này. Phương án thứ nhất cho rằng người đang bị tạm giữ, tạm giam muốn giao kết bất kể loại hợp đồng, giao dịch nào cũng phải nhận được sự chấp thuận của cá nhân và/hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền như điều tra viên, cơ quan điều tra hay kiểm sát viên hoặc Viện kiểm sát. Những cá nhân, cơ quan có thẩm quyền kể trên chính là cá nhân, cơ quan đã ra quyết định hay phê chuẩn việc ra quyết định tạm giữ, tạm giam(1). Những luật gia ủng hộ phương án thứ nhất lý giải do lúc này, quyền tự do, quyền tối thượng của cá nhân đã bị hạn chế nên tất nhiên “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự...” được ghi nhận tại Điều 4,  Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 cũng không còn nữa. Do đó, khi giao kết hợp đồng, giao dịch, người bị tạm giữ, tạm giam phải nhận được sự chấp thuận của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phương án thứ haikhẳng định chỉ khi nào giao kết hợp đồng, giao dịch có liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu (ví dụ như hợp đồng mua bán, tặng cho...) của bản thân, người đang bị tạm giữ, tạm giam mới cần nhận được sự chấp thuận của cá nhân và/hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này có nghĩa khi giao kết các loại hợp đồng, giao dịch khác (ví dụ như hợp đồng ủy quyền, văn bản khai nhận di sản...), người bị tạm giữ, tạm giam cũng chỉ cần chuẩn bị hồ sơ cũng như thực hiện theo trình tự công chứng thông thường. Lý do đưa ra ở đây là tài sản thuộc sở hữu của người đang bị tạm giữ, tạm giam hoàn toàn có thể bị “tịch thu”(2) hoặc dùng để đảm bảo cho khoản tiền phải nộp trong trường hợp hình phạt “phạt tiền” được áp dụng(3)Phương án thứ ba lại thừa nhận người đang bị tạm giữ, tạm giam có thể tự do giao kết mọi loại hợp đồng, giao dịch mà không cần thêm bất cứ một trình tự, thủ tục đặc biệt nào. Nói cụ thể hơn, mặc dù đang bị tạm giữ, tạm giam nhưng ngoại trừ việc phải thực hiện công chứng tại nơi tạm giữ, tạm giam, người đang bị tạm giữ, tạm giam vẫn toàn quyền giao kết tất cả các loại hợp đồng, giao dịch mà anh ta mong muốn. Cơ sở pháp lý cho phương án thứ ba chính là nội dung Khoản 1, Điều 146, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về “Kê biên tài sản”, theo đó “Việc kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt tiền cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” trong khi Khoản 2 của điều luật nói trên cũng xác định "Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại". Theo nội dung điều luật vừa nêu, người bị tạm giữ, tạm giam hoàn toàn có thể tự do giao kết hợp đồng, giao dịch theo ý chí chủ quan, ngay cả khi đó là hợp đồng, giao dịch nhằm chuyển nhượng tài sản của những cá nhân này.
Để làm rõ thêm một vài khía cạnh có liên quan tới từng phương án kể trên, Chương VI, Phần thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, bao gồm 16 điều luật (từ Điều 79 đến Điều 94) quy định về “Những biện pháp ngăn chặn”. Trong số biện pháp ngăn chặn được đề cập đến, các nhà làm luật không hề nói tới bất kỳ một biện pháp nào nhằm ngăn chặn đương sự tẩu tán tài sản. Hơn thế nữa, Điều 9, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 kể trên còn khẳng định "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật". Như vậy, căn cứ theo nội dung Khoản 2, Điều 39, Luật Công chứng ngày 29/11/2006 và những quy định kể trên, rõ ràng không có một sự hạn chế nào đối với quyền giao kết hợp đồng, giao dịch của người bị tạm giữ, tạm giam nếu không có một văn bản chính thức của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nói cụ thể hơn, người bị tạm giữ, tạm giam chỉ không được phép giao kết hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản đã bị kê biên theo quy định của pháp luật. Hiện nay, thủ tục kê biên được ghi nhận tại Khoản 3, Điều 146, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, theo đó “...Biên bản kê biên được lập thành ba bản: một bản được giao ngay cho đương sự sau khi kê biên xong; một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án”. Chính vì thủ tục kê biên được quy định tương đối đơn giản, không có sự thông báo tới các tổ chức hành nghề công chứng nên trong trường hợp người yêu cầu công chứng đang bị tạm giữ, tạm giam, công chứng viên cần phải tiến hành kiểm tra, xác minh một cách cẩn thận khi công chứng hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản của những cá nhân này.
2. Nhóm những người đang thi hành án phạt tù:
Khác hẳn với hình thức tạm giữ và tạm giam, phạt tù (bao gồm cả phạt tù có thời hạn và tù chung thân) là một trong những hình phạt chính được liệt kê tại Điều 28, Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009. Như vậy, người đang thi hành án phạt tù hoàn toàn có thể bị hạn chế một số quyền, trong đó có quyền tự do kết ước một vài loại hợp đồng, giao dịch nhất định. Do đó, khi giải quyết yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của người đang thi hành án phạt tù, công chứng viên cần phải kiểm tra nội dung bản án đã có hiệu lực pháp luật. Rõ ràng, bằng cách tìm hiểu nội dung bản án đã có hiệu lực pháp luật, công chứng viên hoàn toàn có thể kiểm tra, xác định chính xác các “chế tài” khác (ngoài hình phạt chính) mà người đang thi hành án phạt tù phải gánh chịu.
Từ những quy định của pháp luật cũng như xuất phát từ thực tiễn công tác cho thấy thông thường các bản án phạt tù đã có hiệu lực không cấm người đang chấp hành hình phạt được phép giao kết hợp đồng, giao dịch trong khi đang thụ án. Tuy nhiên, Luật Thi hành án hình sự ngày 17/6/2010 lại không có điều luật nào cho phép, hướng dẫn người đang chấp hành hình phạt tù tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch công chứng. Có vẻ như đây là điểm chưa thống nhất giữa Luật Thi hành án hình sự ngày 17/6/2010 và Luật Công chứng ngày 29/11/2006. Tuy vậy, về cơ bản chúng ta vẫn có thể khẳng định người đang chấp hành án phạt tù có quyền đứng ra giao kết hợp đồng, giao dịch công chứng. Tất nhiên, nếu trong bản án đã có hiệu lực pháp luật còn xuất hiện các hình thức chế tài khác như tịch thu tài sản, phạt tiền.., công chứng viên cần hết sức thận trọng khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản của người đang chấp hành án phạt tù để tránh vi phạm nội dung Điều 165, Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 quy định về “Nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu, theo đó “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Có hai cách thức giải quyết không giống nhau khi tiếp nhận yêu cầu công chứng của người đang thi hành án phạt tù có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu của họ. Ở cách giải quyết thứ nhất, công chứng viên sẽ chấp nhận cho người đang chấp hành án phạt tù được toàn quyền giao kết hợp đồng, giao dịch công chứng có đối tượng là tài sản thuộc quyền sở hữu của họ nếu như những tài sản kể trên không thuộc đối tượng bị tịch thu theo Điều 40 và Điều 41, Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009 hay bị cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp đảm bảo thi hành án theo Điều 66, Luật Thi hành án dân sự ngày 14/11/2008. Đối với cách giải quyết thứ hai, công chứng viên không chỉ quan tâm tới các tài sản thuộc sở hữu của người đang chấp hành hình phạt tù như cách giải quyết thứ nhất mà còn xem xét cả hình thức phạt tiền theo nội dung Điều 30, Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009. Nói cụ thể hơn, công chứng viên chỉ chứng nhận hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản của người đang thi hành án phạt tù trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xác nhận đương sự đã hoàn thành toàn bộ phần nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự mà không cần quan tâm tới bất kỳ yếu tố khác. Tất nhiên, mỗi cách giải quyết đều được dựa trên một cơ sở pháp lý hay cách lập luận nhất định. Cho tới thời điểm hiện tại, cũng chưa có một quan điểm mang tính chính thống kết luận cách giải quyết nào là chính xác, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, theo cách đánh giá chủ quan thì dù cho áp dụng biện pháp nào đi chăng nữa, mục tiêu của công chứng viên là vừa đảm bảo các quyền dân sự không bị tước đoạt của người đang chấp hành hình phạt tù đồng thời vẫn duy trì được khả năng thi hành phần dân sự trong bản án hình sự của đương sự, tuân thủ theo đúng tinh thần Khoản 2 và Khoản 3, Điều 4, Luật Thi hành án hình sự ngày 17/6/2010 và Điều 4, Luật Thi hành án dân sự ngày 14/11/2008. So sánh 2 cách thức kể trên, rõ ràng cách giải quyết thứ hai tỏ ra an toàn và triệt để hơn nhưng trái lại cũng gây thêm phiền toái cho người đang chấp hành án phạt tù. Sở dĩ như vậy là do hiện nay chúng ta chưa quản lý được một cách toàn diện tài sản thuộc sở hữu cá nhân nói chung hay tài sản của người đang phải chấp hành án phạt tù nói riêng. Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp công tác xác minh, kiểm tra tổng tài sản thuộc sở hữu của người đang chấp hành án phạt tù tỏ ra bất khả thi trên thực tế.
Có thể khẳng định rằng quyền giao kết hợp đồng, giao dịch của người bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù được pháp luật thừa nhận, khẳng định tính ưu việt cũng như nhân đạo của pháp luật nước ta. Ngoại trừ địa điểm công chứng có phần hơi đặc biệt, người bị tạm giữ, tạm giam chỉ phải tuân thủ trình tự, thủ tục công chứng được áp dụng chung cho những trường hợp yêu cầu công chứng thông thường khác. Trong khi đó, nếu người yêu cầu công chứng đang thi hành án phạt tù, tại thời điểm công chứng hợp đồng, giao dịch nhằm định đoạt tài sản thuộc sở hữu của họ, công chứng viên bắt buộc phải kiểm tra, xác minh tiến độ, tình trạng thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật mà cá nhân người yêu cầu công chứng đó đang phải chấp hành. Theo phân tích của cá nhân người viết bài này, trình tự, thủ tục đặc thù nêu trên lại không cần thiết trong trường hợp người đang chấp hành án phạt tù yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch không nhằm mục đích định đoạt tài sản. Tuy nhiên, để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, chúng ta cần khẩn trương quy định trình tự, thủ tục công chứng chung cho nhóm người yêu cầu công chứng đang bị tạm giữ, tạm giam hay đang thi hành án phạt tù, nhất là khi họ tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu của bản thân./.
(1) Xem Khoản 2, Khoản 4, Điều 81 và Khoản 3, Điều 86, Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 26/11/2003.
(2)  Xem Điều 28 và Điều 40, Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009.
(3) Xem Điều 28 và Điều 30, Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009.
Tuấn Đạo Thanh
Phòng Công chứng số 3 TP. Hà Nội

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét