Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Một trường hợp khác của BPNC?: VKS ko ‘‘kiểm” được hoạt động nghe lén điện thoại

http://phapluatxahoi.vn/20121214095449406p1002c1022/vien-kiem-sat-khong-kiem-duoc-hoat-dong-nghe-len-dien-thoai.htm

(PL&XH) - Tố tụng hình sự Việt Nam không có cơ chế minh oan cho người bị tình nghi, người bị khởi tố, bị tạm giữ, tạm giam, bị đưa ra xét xử ngay từ những giai đoạn đầu của quá trình tố tụng.

Tiểu dự án Văn phòng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương vừa đưa ra một báo cáo đáng quan tâm về những tồn tại trong hoạt động của hệ thống CQĐT, VKS ở Việt Nam. Trước hết, Bộ luật TTHS có một loạt điều khoản qui định những điều cả 3 cơ quan Tòa án,VKS và CQĐT cùng thực hiện, hay cho phép cả 3 cơ quan này có quyền khởi tố vụ án. Điều đó cho thấy sự lẫn lộn giữa chức năng buộc tội và chức năng xét xử, vì khi được khởi tố thì Tòa không chỉ xét xử, mà cả buộc tội.

Những vụ án có khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù sẽ phải có luật sư bắt buộc?

Tố tụng hình sự Việt Nam không có cơ chế minh oan cho người bị tình nghi, người bị khởi tố, bị tạm giữ, tạm giam, bị đưa ra xét xử ngay từ những giai đoạn đầu của quá trình tố tụng. Toàn bộ qui định của BLHS là những vấn đề nhằm không để lọt tội phạm, chứ không có bất kỳ qui định nào phản ánh nội dung “không làm oan người vô tội”. Do vậy, các cơ quan tố tụng cũng bằng mọi cách để không thể có người bị oan bằng cách phải tìm bằng được tội phạm. Không ít trường hợp thời hạn điều tra, truy tố, xét xử kéo dài 4, 5 năm thậm chí đến 10 năm và cơ quan tố tụng chuyển hết từ tội danh này sang tội danh khác để chứng minh bằng được bị can phạm tội chứ không thể bị oan! Tại các phiên tòa, HĐXX chỉ dám tuyên trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung, chứ không dám tuyên bị cáo vô tội. Điều này cho thấy, các cơ quan tố tụng cùng nhau không bao giờ chịu thừa nhận việc gây oan cho người vô tội! 

Hiện, hệ thống điều tra gồm 5 cơ quan (Quân đội có 2 cơ quan điều tra, CA có 1 và VKSND TC có 1). Thẩm quyền điều tra của mỗi cơ quan được phân định dựa vào tội danh và đối tượng phạm tội. Việc tổ chức và phân định thẩm quyền này tưởng chừng rành mạch, nhưng lại tạo điều kiện cho việc bỏ lọt tội phạm ngay từ giai đoạn điều tra khi không có CQĐT nào thay thế để điều tra với những vụ án mà CQĐT có thẩm quyền không chịu điều tra hoặc cho rằng không có tội phạm xảy ra, hoặc một người nào đó không phải là người thực hiện tội phạm, mà trong thực tế có tội phạm xảy ra, hoặc một người rõ ràng đã phạm tội. Ví dụ dễ nhận thấy là khi vụ án xảy ra trong lực lượng CA, quân đội mà bị “ỉm” đi thì không CQĐT nào khác có thể điều tra được.


Pháp luật tố tụng hình sự cũng thiếu rõ ràng khi qui định về áp dụng biện pháp ngăn chặn. Điều 79 Bộ luật TTHS qui định căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn là “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án”. Thế nhưng, Điều 80 lại qui định biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, việc bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, nhưng họ không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như không cần để bảo đảm thi hành án thì sao phải tạm giam? Hay qui định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp có đưa ra cơ sở “người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”, nhưng hiểu như thế nào về điều này khi họ chưa trốn và chưa tiêu hủy chứng cứ? Những qui định mập mờ này khiến gần như 100% các vụ án có người bị bắt, tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho việc hỏi cung người bị tình nghi, bị can.

Hay qui định thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật, nhưng để điều tra, CQCA áp dụng biện pháp nghe lén điện thoại của người bị tình nghi. Tuy cần thiết để phục vụ điều tra, nhưng đây lại là quyền cơ bản của công dân. Trong khi đó, VKS được giao quyền kiểm sát hoạt động điều tra tố tụng, nhưng những việc làm này của CQĐT lại không được coi là hoạt động điều tra tố tụng, mà là hoạt động điều tra trinh sát trước hoặc sau khi có quyết định khởi tố, có nghĩa VKS không thể kiểm sát hoạt động này, nên rất dễ dẫn đến sự quá đà, lạm quyền.

Để khắc phục những tồn tại này, nhóm tác giả cho rằng cần thu gọn đầu mối hệ thống CQĐT theo hướng hầu hết tội phạm nên giao cho CQĐT của lực lượng cảnh sát tiến hành và điều tra viên của lực lượng cảnh sát là công chức Nhà nước, chứ không đặt trong lực lượng vũ trang như hiện nay (tương tự mô hình của Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc). Bên cạnh đó, cần giao thẩm quyền điều tra cho VKS với một số loại tội phạm để gắn kiểm sát với điều tra và tăng cường trách nhiệm của VKS; tăng thẩm quyền cho luật sư bào chữa và mở rộng diện vụ án phải có luật sư bắt buộc là những vụ án có khung hình phạt cao nhất 15 năm trở lên, thay cho chỉ bắt buộc với khung hình phạt cao nhất là tử hình như hiện nay.

 Phương Thảo

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét