Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Vấn đề bị can, bị cáo, người bị kết án bỏ trốn - nguyên nhân và một số kiến nghị

http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=22068209

Vấn đề bị can, bị cáo, người bị kết án bỏ trốn - nguyên nhân và một số kiến nghị

Tình hình bị can, bị cáo và người bị kết án bỏ trốn, trong thời gian qua đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố tụng. Bài viết này tập trung phân tích về nguyên nhân bị can, bị cáo, người bị kết án bỏ trốn; đồng thời đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng trên.
1.Nguyên nhân việc bị can, bị cáo, người bị kết án bỏ trốn
Theo số liệu thống kê của Vụ Thống kê - Tổng hợp TAND tối cao, thì số lượng tội phạm bỏ trốn trên phạm vi toàn quốc trong thời gian qua tăng cao, cụ thể: Trong 9 tháng đầu năm 2012 (số liệu thống kê từ ngày 01/10/2011 đến ngày 30/6/2012), trên toàn quốc, trong tổng số 80.974 người bị kết án Tòa án phải ra quyết định thi hành án, có 68.988 người bị kết án phải ra quyết định thi hành án phạt tù. Trong số này, có 2.359 người bỏ trốn (bao gồm cả số người bỏ trốn trong các giai đoạn, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án); cơ quan Công an đã ra quyết định truy nã 1.421 người và chưa có quyết định truy nã 938 người. Tỷ lệ số người bị kết án bỏ trốn là 2.359/68.988 người bị án bị kết án phạt tù, chiếm tỷ lệ 3,4%. Trong đó, số người bị kết án bỏ trốn ở Tòa án cấp huyện là 1.383 người/61.776 người bị kết án bị kết án phạt tù, chiếm tỷ lệ 2,24%; số người bị kết án bỏ trốn ở Tòa án cấp tỉnh là 976 người/7.192 người bị kết án phạt tù, chiếm tỷ lệ 13,57%. Nguyên nhân của tình trạng này là:
a. Nguyên nhân khách quan
Trong (BLTTHS) năm 2003, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ được quy định trong Chương VI mà còn được quy định ở một số điều luật thuộc các chương khác. Tuy nhiên tại Chương VI “Những biện pháp ngăn chặn” không có nội dung nào chỉ dẫn về mối liên quan để người áp dụng dễ dàng thực hiện. Ví dụ, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên được quy định tại Chương XXXII, Phần thứ bẩy “Thủ tục đặc biệt” trong BLTTHS; về thời hạn tạm giam không được quy định trong Chương VI “Những biện pháp ngăn chặn” mà được quy định tại Chương IX “Những quy định chung về điều tra”. Việc quy định như vậy gây khó khăn cho những người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS.
 Mặt khác, các quy định của BLTTHS về tạm giam (Điều 88 BLTTHS) quy định về biện pháp tạm giam còn chưa cụ thể, rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng quy định này chưa thống nhất. Cụ thể, Điều 88 BLTTHS quy định như sau: “1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”.
Điều luật sử dụng thuật ngữ “tạm giam có thể được áp dụng …” nên dễ dẫn đến tùy tiện khi áp dụng biện pháp này. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp bị can, bị cáo đã bỏ trốn sau khi người có thẩm quyền hủy bỏ biện pháp tạm giam, một phần là do pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định chặt chẽ các căn cứ và điều kiện đối với việc hủy bỏ biện pháp tạm giam, nên việc cho bị can, bị cáo được tại ngoại để chờ xét xử hoặc thi hành án phạt tù còn dễ dãi, chưa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.  
Chương VI của BLTTHS quy định những biện pháp ngăn chặn gồm có: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; trong đó có biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là các biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam. Theo quy định tại Điều 92 BLTTHS thì, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh. Tại khoản 5 Điều 92 cũng quy định: “Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác”. Tuy nhiên, BLTTHS không quy định cụ thể chế tài áp dụng đối với người nhận bảo lĩnh trong trường hợp người bị kết án được bảo lĩnh trốn sau khi xét xử. Do không quy định cụ thể trách nhiệm của người bảo lĩnh, nên có nhiều trường hợp, người bị kết án lợi dụng biện pháp bảo lĩnh để trốn, gây khó khăn cho công tác xét xử hoặc thi hành án.
Ngoài nguyên nhân nên trên, có tình trạng bị can, bị cáo, người bị kết án bỏ trốn do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sợ phải chấp hành hình phạt tù, hoặc có trường hợp, người bị kết án tù, nhưng cho hưởng án treo bỏ trốn khỏi địa phương, do thiếu hiểu biết về pháp luật, tình trạng này thường diễn ra ở một số tỉnh vùng cao, miền núi có trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế.
b.Nguyên nhân chủ quan
Theo báo cáo về công tác thi hành án của một số Tòa án địa phương, trong 05 trở lại đây vẫn còn tình trạng, bị can, bị cáo bỏ trốn trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử là do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng hoặc không áp dụng một cách chính xác, đầy đủ các quy định của BLTTHS về các biện pháp ngăn chặn, cũng có trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng hủy bỏ biện pháp tạm giam một cách tùy tiện, hoặc Tòa án chậm ra quyết định tạm giam bị can, bị cáo trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án quy định tại các Điều 177, Điều 228 và Điều 243 BLTTHS hoặc chậm ra quyết định thi hành án phạt tù quy định tại Điều 256 BLTTHS  dẫn đến việc bị can, bị cáo, người bị kết án có điều kiện để bỏ trốn. 
Đối với biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại khoản 2, Điều 91 BLTTHS quy định: “…Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản lý, theo dõi họ. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó”. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý, giám sát của chính quyền địa phương đối với người bị kết án bị áp dụng biện pháp ngăn chặn đi khỏi nơi cư trú còn lỏng lẻo; mối liên hệ giữa chính quyền địa phương với cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú chưa chặt chẽ, dẫn đến nhiều trường hợp sau khi xét xử, người bị kết án trốn khỏi nơi cư trú nhưng chính quyền địa phương không biết; chỉ đến khi Tòa án ra quyết định thi hành án mới phát hiện ra người bị kết án đã bỏ trốn khỏi địa phương.
2. Một số kiến nghị, giải pháp
Nhằm giảm thiểu số bị can, bị cáo, người bị kết án phạt tù bỏ trốn sau khi xét xử, chúng tôi đề xuất một số giải pháp, và đưa ra một số kiến nghị sau:
Thứ nhất:  nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 theo hướng tất cả các chế định, quy định về biện pháp ngăn chặn phải được quy định trong chương về các biện pháp ngăn chặn.
Về áp dụng biện pháp bảo lĩnh
Tại Điều 92, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam...”. Thực tế áp dụng biện pháp bảo lĩnh đã nảy sinh tồn tại như sau: Do luật không quy định người bảo lĩnh phải đặt tiền, không quy định cụ thể trách nhiệm của cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ cam đoan, nên không phát huy được hiệu lực, hiệu quả của việc áp dụng biện pháp này. Nhiều trường hợp người nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo trốn, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án nhưng chưa có biện pháp xử lý trách nhiệm của người nhận bảo lĩnh.
Để tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, chúng tôi kiến nghị, cần sửa đổi Điều 92 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, về biện pháp bảo lĩnh theo hướng:
- Quy định bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay cho việc áp dụng biện pháp tạm giam, do vậy đối tượng áp dụng biện pháp này là bị can đang bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo đang bị tạm giam hoặc bị can, bị cáo xét thấy không cần thiết phải tạm giam.
- Quy định rõ căn cứ, điều kiện áp dụng biện pháp bảo lĩnh: Quy định người bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải đặt một khoản tiền; bảo lĩnh phải bằng tiền hoặc giấy tờ bảo đảm có giá trị thanh toán bằng tiền (không quy định bảo lĩnh bằng tín chấp hoặc bằng đồ vật). Có đơn xin bảo lĩnh của người nhận bảo lĩnh, có sự đồng ý của người được bảo lĩnh là bị can, bị cáo. Người nhận bảo lĩnh là người thân thích của bị can, bị cáo, Luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo.
- Quy định trách nhiệm người nhận bảo lĩnh trong việc thực hiện các nghĩa vụ cam đoan: Bảo đảm chắc chắn là người được bảo lĩnh tuân thủ những quy định; báo cáo ngay đến cơ quan tiến hành tố tụng khi phát hiện thấy người được bảo lĩnh có thể thực hiện hoặc đã thực hiện những hành vi vi phạm. Nếu người nhận bảo lĩnh vi phạm các nghĩa vụ đã cam đoan để người được bảo lĩnh thực hiện hành vi vi phạm các quy định pháp luật thì họ bị phạt tiền và số tiền bảo lĩnh bị sung quỹ Nhà nước. Nếu hành vi cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Quy định điều kiện đối với người nhận bảo lĩnh: Là cá nhân có phẩm chất chính trị tốt, không liên quan đến vụ án; có khả năng thực hiện những trách nhiệm của người nhận bảo lĩnh; có thu nhập ổn định và cư trú cùng địa phương với bị can, bị cáo được bảo lĩnh để bảo đảm giám sát.
- Quy định trách nhiệm người được bảo lĩnh: Bị can, bị cáo phải có mặt đúng thời gian, địa điểm triệu tập; không vi phạm hoạt động tố tụng; không can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào với nhân chứng khi họ khai báo; không được tiêu huỷ hoặc làm sai lệnh chứng cứ hoặc thông cung hoặc thực hiện các hành vi khác gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
- Quy định hạn chế bảo lĩnh: Không áp dụng bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo đã có tiền án lại phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về hành vi này, tội xâm phạm an ninh quốc gia, trừ trường hợp phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, người già, bệnh nặng, người chưa thành niên
Về áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm
Tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Tuy nhiên, việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm dựa trên tiêu chí nào và tiến hành theo trình tự, thủ tục như thế nào? Những loại tội nào thì có thể được đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm? Mức tiền hoặc tài sản có giá trị là bao nhiêu để có thể áp dụng biện pháp này thì Luật lại chưa có quy định cụ thể, dẫn đến biện pháp ngăn chặn này chưa phát huy tác dụng trong thực tiễn.
Thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 trong những năm qua cho thấy, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm rất ít được áp dụng. Nguyên nhân là do chưa có văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, nên nhận thức về biện pháp ngăn chặn này giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa thống nhất. Để quy định này đi vào thực tiễn, đề nghị trong Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi lần này cần quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản để bảo đảm; quy định đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo phải do chính bị can, bị cáo thực hiện.
Để khắc phục những vướng mắc của luật hiện hành, bảo đảm thực tiễn áp dụng được thuận lợi, phát huy hiệu lực, hiệu quả biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, đề nghị cần sửa đổi Điều 93 theo hướng:
- Để thuận lợi cho việc áp dụng, tránh gây phiền hà cho quá trình bảo quản và xử lý tài sản, quy định rõ đối tượng cho đặt tiền để thay cho tạm giam là bị can, bị cáo; quy định đặt tiền hoặc giấy tờ có giá trị để bảo đảm, bỏ quy định đặt tài sản (đồ vật); đồng thời quy định trình tự, thủ tục đặt tiền ngay trong Bộ luật như bị can, bị cáo phải có đơn đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét; việc giao nhận tiền đặt phải được lập biên bản và bản sao biên bản phải được giao cho người đặt tiền hoặc giấy tờ có giá trị để bảo đảm; quy định mức tiền phải đặt do cơ quan có quyền áp dụng (Viện kiểm sát, Toà án) quyết định trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả gây thiệt hại, tình trạng tài sản của bị can, bị cáo và việc bảo đảm thi hành án, nhưng không được vượt quá khả năng tài chính của người đặt tiền.
- Để ngăn chặn các tội phạm nguy hiểm, cần quy định các trường hợp không được áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm gồm: Các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ… (trừ loại tội do lỗi vô ý); các đối tượng phạm các tội vừa xâm phạm quyền sở hữu vừa xâm phạm trật tự trị an xã hội như trộm cắp, cướp, cướp giật; bị can, bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là chung thân, tử hình; về nhân thân không áp dụng đối với người tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất côn đồ, có tính chuyên nghiệp, không nơi cư trú rõ ràng…
- Quy định rõ chế tài xử lý đối với người đặt tiền khi họ vi phạm nghĩa vụ cam đoan và việc hoàn lại số tiền đã đặt: Trong trường hợp bị can, bị cáo không thực hiện nghĩa vụ hoặc vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan liên quan đến việc được đặt tiền để đảm bảo như không có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội, thì số tiền đã đặt bị sung công quỹ Nhà nước theo quyết định của Toà án. Khi Toà án ra bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án thì Toà án quyết định việc trả lại tiền hoặc giấy tờ có giá trị để bảo đảm đã đặt cho người đặt tiền. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì việc trả lại tiền cho người đã đặt phải nêu trong quyết định đình chỉ.
- Quy định rõ thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm gồm: Viện kiểm sát quyết định cho bị can đặt tiền trong giai đoạn điều tra, truy tố; Toà án quyết định cho bị can, bị cáo đặt tiền trong giai đoạn xét xử.
 Về áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
Tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”, nhưng thực tiễn áp dụng biện pháp này hiệu quả thấp. Nhiều trường hợp chính quyền cơ sở không theo dõi, quản lý chặt chẽ nên để xảy ra việc bị can, bị cáo trốn, gây khó khăn cho quá trình tiến hành tố tụng. Trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc quản lý, theo dõi bị can, bị cáo tại ngoại không rõ ràng, khi vi phạm thì khó có thể truy cứu trách nhiệm, làm hạn chế tính khả thi của biện pháp ngăn chặn này. Thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là rất rộng thường được áp dụng khi khởi tố bị can cho đến khi chuyển hồ sơ sang Toà án, không quy định thời hạn cụ thể, do đó, các cơ quan tiến hành tố tụng không quan tâm. Điều luật quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đều có quyền huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng rất ít trường hợp thực hiện. Một lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú có khi được sử dụng suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Chỉ đến khi bị can, bị cáo không có mặt theo giấy triệu tập hoặc khiếu nại thì biện pháp này mới được quan tâm. Bị can, bị cáo do chỉ làm giấy cam đoan, nhưng không có quy định ràng buộc kèm theo nên không nâng cao trách nhiệm của họ trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam đoan.
kiến nghị cần sửa đổi Điều 91 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về cấm đi khỏi nơi cư trú chặt chẽ hơn, theo hướng: Tiếp tục quy định cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn độc lập nhưng quy định người đứng đầu chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý, giám sát chặt chẽ bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú; quy định cụ thể thời hạn áp dụng biện pháp này trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Khi chuyển giai đoạn tố tụng nếu thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải ra lệnh để áp dụng tiếp, nếu không cần thiết thì huỷ bỏ.
Về việc bắt giữ các “đối tượng đặc biệt
Bộ Luật Tố tụng hình sự hiện hành, chưa có điều luật nào quy định việc bắt các đối tượng là đại biểu dân cử; đảng viên; cán bộ, chiến sĩ CAND; người có chức sắc trong các tôn giáo; người thủ lĩnh, người có danh tiếng, có uy tín lớn trong các dân tộc ít người; tri thức, nhân sĩ có tên tuổi, văn nghệ sĩ có tiếng tăm được trong nước và thế giới chú ý tới và người nước ngoài… Trong khi đó việc bắt những “đối tượng đặc biệt” này được quy định trong một số văn bản pháp luật của Nhà nước, văn bản của Đảng và Bộ Công an, như: Luật Tổ chức Quốc hội,Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Công văn số 318/CV-BNV(V11) ngày 29/3/1992 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc xin ý kiến trước khi bắt, giam, giữ một số đối tượng đặc biệt; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16/3/2000 của Bộ Chính trị về phạm vi, trách nhiệm, quyền hạn giữa các cấp ủy Đảng với Đảng ủy Công an, Ban cán sự Đảng VKSND, Ban cán sự Đảng TAND trong công tác bảo vệ Đảng và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên; Hướng dẫn số 05-HD/NCTW ngày 15/01/2001 của Ban Nội chính Trung ương về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xử lý tội phạm theo tinh thần chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16/3/2000 của Bộ Chính trị về việc bắt giữ các đối tượng đặc biệt. Vì vậy, cần phải ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất, chi tiết việc bắt các đối tượng nêu trên.
Ngoài ra, về khoản 4 Điều 81 BLTTHS có quy định về thẩm quyền xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp thuộc về Viện Kiểm sát cùng cấp. Tuy nhiên, đối với trường hợp người có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp là “Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới” và “Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này” thì rất khó xác định được Viện Kiểm sát cùng cấp như khi tàu bay đang bay trên bầu trời, tàu biển đang ở ngoài biển... Do đó, chúng tôi cho rằng cần quy định bổ sung trong khoản 4 Điều 81 với nội dung “đối với trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều luật này, thẩm quyền để xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là Viện Kiểm sát nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký” . Quy định như vậy mới kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn chặn hành động bỏ trốn, hay các hành động khác gây khó khăn cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử.
 Về việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
BLTTHS 2003 quy định việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã trong cùng một điều luật tại Điều 82 BLTTHS. Việc bắt người trong hai trường hợp này quy định: “ Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến Cơ quan Công an, Viện Kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất”. Về phương diện lý luận cũng như thực tiễn áp dụng quy định này cho thấy: Quy định chung việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã vào cùng một điều luật là không phù hợp, vì đối tượng và thủ tục áp dụng, những việc cần làm sau khi tiếp nhận người bị bắt trong hai trường hợp này không giống nhau.
Trước hết về đối tượng: Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang chưa phải là bị can, bị cáo; còn người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã là người đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam hay đang chấp hành án phạt tù thì bỏ trốn mà cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định truy nã.
Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang họ có thể bị giam giữ hoặc không bị giam giữ theo Điều 86 BLTTHS năm 2003; còn người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã thì sau khi bị bắt, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải áp dụng biện pháp tạm giữ hoặc tạm giam đối với họ. Vì vậy, Chúng tôi kiến nghị tách quy định bắt người phạm tội quả tang và đang bị truy nã thành 02 điều luật riêng biệt.
Mặt khác, khoản 2 Điều 82 BLTTHS chỉ quy định: “khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt”.  Như vậy, người có thẩm quyền bắt chỉ được “tước” vũ khí của  người bị bắt khi họ dùng chúng để chống trả,  trong khi, trên thực tế, người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thường có vũ khí trong người và rất dễ chống trả ngay để thoát thân, bỏ trốn nếu bị phát hiện và bắt giữ. Cho nên, nếu không quy định quyền này một cách chính xác, chặt chẽ thì rất khó khuyến khích quần chúng nhân dân tích cực tham gia công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. Vì vậy, theo chúng tôi thấy cần quy định thêm nội dung bất kỳ người nào cũng có quyền “lục soát tước vũ khí, hung khí của người bị bắt” trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, để phân biệt với biện pháp khám người theo quy định tại Điều 182 BLTTHS
Thứ 2: Để hạn chế tình trạng bị can, bị cáo, người bị kết án bỏ trốn, các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra lệnh bắt, tạm giam hoặc phê chuẩn các lệnh bắt, tạm giam cần thực hiện triệt để các quy định của BLTTHS về các biện pháp bắt tạm giam, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn. Khi bị can, bị cáo không có đủ điều kiện để tại ngoại thì kiên quyết không áp dụng các biện pháp ngăn chặn như cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm hoặc bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam.
Đối với những người tiến hành tố tụng thuộc Tòa án các cấp, cần triệt để thực hiện quy định tại Điều 79,80 và 88 của BLTTHS và hướng dẫn tại mục 9, Phần I, Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTHS  năm 2003 là khi xét thấy để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như cần bảo đảm thi hành án, thì Chánh án, Phó Chánh án hoặc Hội đồng xét xử phải ra ngay quyết định tạm giam hoặc quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam, đề phòng bị can, bị cáo trốn.
Khi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc biện pháp bảo lĩnh, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thay thế biện pháp tạm giam, các cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, đánh giá một cách toàn diện nhân thân của bị can, bị cáo cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để áp dụng biện pháp ngăn chặn thích hợp; hạn chế việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc các biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo được xác định là tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Đối với trường hợp xét xử tại phiên tòa phúc thẩm, nếu sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử phúc thẩm cũng như qua diễn biến xét xử tại phiên tòa, nếu thấy có đủ các điều kiện như có căn cứ để xử phạt tù bị cáo, bị cáo không thuộc trường hợp có thể cho hưởng án treo và bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 261 BLTTHS và Điều 61 BLTTHS thì Hội đồng xét xử phúc thẩm cần ra quyết định bắt và tạm giam bị cáo ngay khi kết thúc phiên tòa. Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm cần có ngay công văn trao đổi trước với cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án sẽ mở phiên tòa xét xử vụ án để cơ quan Công an chuẩn bị người và phương tiện cần thiết cho việc bắt tạm giam người bị kết án khi có quyết định bắt và tạm giam của Tòa án cấp phúc thẩm. Công văn này phải đảm được đóng dấu “Mật” và bảo quản theo chế độ “Mật”. Tuyệt đối tránh việc sau khi công bố quyết định bắt và tạm giam bị cáo lại hủy bỏ và không thực hiện lệnh này, để bị cáo biết và trốn sau khi xét xử phúc thẩm.
Thứ ba, đối với lực lượng Công an nhân dân, cần phải kết hợp đồng bộ giữa vận động đầu thú và truy bắt. Những đối tượng có khả năng vận động đầu thú thì cần tích cực vận động đầu thú. Ngược lại, những đối tượng cố tình trốn tránh thì kiên quyết áp dụng các nghiệp vụ truy bắt. Lực lượng Công an cần tập trung chỉ đạo, rà soát, phân loại đối tượng truy nã, trên cơ sở đó có kế hoạch huy động các lực lượng, phương tiện triển khai đồng bộ các biện pháp trong các đợt cao điểm truy bắt, vận động đối tượng truy nã ra đầu thú. Tăng cường công tác phối hợp giữa các lực lượng, đơn vị, địa phương, phải coi công tác truy nã tội phạm là một hoạt động trong quá trình điều tra tội phạm và là trách nhiệm chính của toàn lực lượng Công an, gắn với việc triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 07/CT-BCA ngày 29/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an về nâng cao hiệu quả công tác truy nã tội phạm trong thời gian tới. Đồng thời, có kế hoạch phối hợp với các cơ quan chức năng của nước ngoài trong việc truy bắt, dẫn độ tội phạm về nước. Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa lực lượng Cảnh sát làm công tác truy bắt tội phạm bị truy nã đảm bảo tính chuyên nghiệp, hiệu quả.
Thứ tư, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS; rút kinh nghiệm kịp thời đối với các trường hợp để xảy ra sai sót trong việc áp dụng các quy định về các biện pháp ngăn chặn; kiểm điểm và xử lý nghiêm túc đối với các trường hợp có sai phạm nghiêm trọng do lỗi chủ quan của những người có thẩm quyền trong việc để bị cáo bỏ trốn trước và sau khi xét xử.
Thứ năm, cần tăng cường công tác quản lý, giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú đối với các bị can, bị cáo và người bị kết án khi các đối tượng này không bị áp dụng biện pháp tạm giam mà được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại, bảo lĩnh,.... Đồng thời, cần có quy định cụ thể nhằm nâng cao mối liên hệ công tác giữa chính quyền địa phương và cơ quan đã áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,...trong việc giám sát, quản lý bị can, bị cáo, người bị kết án tại ngoại hoặc được áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác thay thế biện pháp tạm giam.
Với các giải pháp đồng bộ nêu trên, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống việc bỏ trốn của bị can, bị cáo và người bị kết án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nói riêng sẽ được bảo đảm.
Đỗ Thị Thúy Hà - Trần Thị Hương
Tòa án nhân dân tối cao

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét